- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Lưu Thị Ái H yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con với ông Trần Hồng P"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Lưu Thị Ái H được ly hôn với ông Trần Hồng P.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 68/2019/HNGĐ-ST Ngày: 29/11/2019 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM,
TỈNH NINH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Hùng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Đình Nguyên
Ông Mai Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Minh Trường - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Liên - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang
- Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 324/2019/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80A/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 29/10/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 64/2019/QĐST-HNGĐ ngày 13/11/2019 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lưu Thị Ái H - sinh năm 1977
Địa chỉ: Khu phố 2, phường M, thành phố P1, tỉnh Ninh Thuận (có mặt).
- Bị đơn: Ông Trần Hồng P - sinh năm 1977.
Địa chỉ: Khu phố 3, phường T, thành phố P1, tỉnh Ninh Thuận (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 24/5/2019 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn bà Lưu Thị Ái H trình bày:
Bà Lưu Thị Ái H và ông Trần Hồng P kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được Ủy ban nhân dân phường M, TP. P1, tỉnh Ninh Thuận cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 49 ngày 20/10/2003. Sau khi kết hôn vợ chồng bà sống chung tại số 16, đường N, phường T, TP. P1, tỉnh Ninh Thuận. Quá trình chung sống vợ chồng tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên mâu thuẫn, ông P nhiều lần đi nhậu về có lời lẽ xúc phạm bà và gia đình bà, có hành vi đánh đập bà nhiều lần dẫn đến cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 5/2018 đến nay, mạnh ai nấy sống, không còn quan tâm đến nhau, không ai đặt vấn đề đoàn tụ. Nay không còn tình cảm với ông P nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông P.
Về con chung: Vợ chồng bà có 02 con chung tên Trần Lưu Gia B, sinh ngày 08/10/2003 và Trần Lưu Gia Q, sinh ngày 02/10/2005. Ly hôn bà H yêu cầu được nuôi cháu Trần Lưu Gia Q, giao cháu Trần Lưu Gia B cho ông P nuôi dưỡng, không ai phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung và nợ chung: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là ông Trần Hồng P quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay Tòa án đã thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông P nhưng ông P vẫn vắng mặt không có lý do.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát: Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đều tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông P vẫn vắng mặt không có lý do. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự giải quyết vắng mặt bị đơn.
Về quan điểm giải quyết nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng.
Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn bà Lưu Thị Ái H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con với bị đơn ông Trần Hồng P. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ở phường T, TP. P1 nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân TP. Phan Rang - Tháp Chàm theo khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xử lý về việc vắng mặt của bị đơn: Từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm mở phiên tòa sơ thẩm Tòa án nhân dân TP. Phan Rang - Tháp Chàm đã thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông P đều vắng mặt. Điều này chứng tỏ ông P đã từ bỏ quyền tham gia tố tụng của mình. Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, cùng với tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án để làm cơ sở giải quyết và xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.
Về nội dung tranh chấp:
Bà Lưu Thị Ái H và ông Trần Hồng P kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức cưới hỏi và có đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân phường M, TP. P1, tỉnh Ninh Thuận cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 49 ngày 20/10/2003, đây là hôn nhân hợp pháp, tại phiên tòa sơ thẩm bà H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Về quan hệ hôn nhân, xét thấy: Theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Tuy nhiên, quá trình chung sống vợ chồng tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên mâu thuẫn, ông P nhiều lần đi nhậu về có lời lẽ xúc phạm bà và gia đình bà, có hành vi đánh đập bà nhiều lần dẫn đến cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 5/2018 đến nay, mạnh ai nấy sống, không còn quan tâm đến nhau, không ai đặt vấn đề đoàn tụ. Công an phường M, TP. P1 nơi bà H cư trú xác nhận, ngày 31/3/2019 ông Trần Hồng P đến số 15 N, khu phố 2, phường M (nơi bà H cư trú) gây mất trật tự, Công an phường M lập hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính.
Ông P biết việc bà H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn nhưng không tham gia tố tụng thể hiện ông P không có thiện chí và không có nguyện vọng hàn gắn tình cảm vợ chồng. Vì vậy, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xét thấy hôn nhân giữa bà H và ông P đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H.
Về con chung: Vợ chồng bà có 02 con chung tên Trần Lưu Gia B, sinh ngày 08/10/2003 và Trần Lưu Gia Q, sinh ngày 02/10/2005. Ly hôn bà H yêu cầu được nuôi cháu Trần Lưu Gia Q, giao cháu Trần Lưu Gia B cho ông P nuôi dưỡng, không ai phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy: Cháu Trần Lưu Gia B hiện nay đang ở với ông P và cháu B có nguyện vọng ở với cha, cháu Trần Lưu Gia Q đang ở với bà H và có nguyện vọng được ở với mẹ. Bà H và ông P đều làm nghề may, có thu nhập và đủ điều kiện để nuôi con. Trong quá trình giải quyết vụ án thì ông P vắng mặt, không cung cấp bất kỳ tài liệu, chứng cứ nào để phản bác hoặc phản tố đối với yêu cầu khởi kiện của bà H, xét yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử giao cháu Trần Lưu Gia B cho ông Trần Hồng P nuôi dưỡng; Giao cháu Trần Lưu Gia Q cho bà Lưu Thị Ái H nuôi dưỡng và không ai phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con do không có yêu cầu.
Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thành phố Phan Rang - Tháp Chàm tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ và đúng pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Tài sản chung và nợ chung: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí: Bà H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271 và Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Lưu Thị Ái H được ly hôn với ông Trần Hồng P.
2. Về con chung:
- Giao cho bà Lưu Thị Ái H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Trần Lưu Gia Q, sinh ngày 02/10/2005. Giao cho ông Trần Hồng P được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Trần Lưu Gia B, sinh ngày 08/10/2003. Bà Lưu Thị Ái H và ông Trần Hồng P không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con do không có yêu cầu.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trong nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
3. Về án phí: Bà Lưu Thị Ái H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) bà Lưu Thị Ái H đã nộp theo biên lai thu tiền số: 0018545 ngày 24/5/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận. Bà Lưu Thị Ái H đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Thuận; - VKSND tỉnh Ninh Thuận; - VKSND TP. PR-TC; - Chi cục THADS TP. PR-TC; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Hùng |