- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Nguyễn Thị L tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản trên đất với Nguyễn Văn T"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban th ờng vụ Quốc hội khóa 14 qui định về mức thu, mi n, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí T a án, xử:
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 170 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 68/2019/DSPT Ngày 20/6/2019 V/v Tranh ch p quy n s d ng đât và tài s n trên đ t |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Tuấn Anh
Các Thẩm phán:
Ông Nguy n Đ c D ng
Ông Nguy n Văn Tính
- Thư ký phiên tòa: ng Phan Đình C ng, Th ký T a án nhân dân t nh B c Ninh
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: ng Nguy n Đình D ng - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2019 tại trụ sở T a án nhân dân t nh B c Ninh xét xử phúc thẩm c ng khai vụ án thụ lý số: 67/2019/TLPT-DS ngày 11 tháng 4 năm 2019 về Tranh chấp quyền sử dụng đất.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 05/2019/ DSST ngày 31 tháng 01 năm 2019 của Toà án nhân dân thành phố B c Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đ a vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 67/2019/QĐPT-DS ngày 08 tháng 5 năm 2019 giữa các đ ơng sự:
Nguyên đơn: Bà Nguy n Thị L, sinh năm 1953.
Địa ch : Khu B, ph ờng V, thành phố B, t nh BN (có mặt);
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Chị Đặng Thị H, sinh năm 1984; Địa ch : Số 170, đ ờng NGT, ph ờng S, thành phố B, t nh BN (Có mặt).
Bị đơn: ng Nguy n Văn T (tên g i khác:V), sinh năm 1975 (có mặt);
Bà Nguy n Thị O, sinh năm 1975 (v ng mặt)
Đều c trú tại: Số nhà 457, đ ờng NT, khu B, ph ờng V, Thành phố B, t nh BN.
Người b o vệ quy n và lợi ích hợp pháp của bị đơn: ng Trần Văn H - Luật s Văn ph ng luật s HK thuộc Đoàn luật s t nh B c Ninh; Địa ch : Khu 3, ph ờng Đ, thành phố B, t nh BN (Có mặt).
Người có quy n lợi, nghĩa v liên quan:
Ông Nguy n Mạnh C, sinh năm 1965 (có mặt)
Bà Trần Thị Anh P, sinh năm 1969 (v ng mặt)
Đều c trú: Số 55, XD, ph ờng K, thành phố B, t nh BN.
Ng ời kháng cáo: Bà Nguy nThị L
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ thì nội dung vụ án nh sau:
Tại đơn khởi kiện đ ngày 29/3/2017 cùng với các lời khai tiếp theo tại Toà án, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị L và người đại diện theo ủy quy n của nguyên đơn là chị Đặng Thị H trình bày: Năm 2006 T a án nhân dân t nh B c Ninh xét xử phúc thẩm vụ án ly h n giữa bà Nguy n Thị L và ông Nguy n Văn T, tại bản án số 21/2006/PT-DS ngày 21-22 tháng 3 năm 2006 của T a án nhân dân t nh B c Ninh đã phân chia tài sản chung của vợ chồng và đã giao cho bà L đ ợc quyền sử dụng thửa đất số 62 tờ bản đồ số 06 có diện tích 64,75 m2 (Chiều rộng 3,7m, chiều dài 17,5m) ở cụm 1, khu Bồ sơn, ph ờng Võ C ờng, thành phố B c Ninh, t nh B c Ninh; và tạm giao cho bà L 35,53 m2 đất ch a hợp pháp. Thửa đất tạm giao này nằm liền sát với thửa đất số 62 nêu trên. Sau khi đ ợc Tòa án phân chia đất bằng bản án nêu trên, bà L có xây nhà lán lợp mái t n, làm cầu thang bằng s t lên tầng 2 của ng i nhà trần, công trình phụ là nhà t m, nhà vệ sịnh tự hoại trên toàn bộ diện tích đất tạm giao. Trên thửa đất có diện tích 64,75 m2 tr ớc đó bà L và ng T có làm một nhà trần hai tẩng, ng i nhà này có làm lấn sang phần đất tạm giao chiều rộng là 1,8m, chiều dài là 6m với diện tích 10,8m2.
Đến tháng 5 năm 2013 bà L có chuyển nh ợng thửa đất số 62 tờ bản đồ số 06 ở cụm 1 khu Bồ Sơn, ph ờng Võ C ờng, thành phố B c Ninh, t nh B c Ninh cho vợ chồng ng Nguy n Mạnh C, bà Trần Thị Anh P; còn phần đất tạm giao bà L không chuyển nh ợng cho vợ chồng ông C, bà P. Sau đó vợ chồng ông C, bà P lại chuyển nh ợng cho vợ chồng ng Nguy n Văn T, bà Nguy n Thị O thửa đất mà bà L đã chuyển nh ợng cho vợ chồng ng C, bà P. Khi bà L thấy vợ chồng ông T, bà O làm nhà trên thửa đất tạm giao (Theo bản án nêu trên), bà L có hỏi thì ông T, bà O nói là ông C đã chuyển nh ợng cho, bà L có đ i, nh ng vợ chồng ng T, bà O kh ng trả. Vì vậy bà L khởi kiện đến Tòa án nhân dân thành phố B c Ninh yêu cầu giải quyết buộc vợ chồng ông T, bà O phải trả lại cho bà L trị giá 35,53m2 đất tạm giao là 1000.000.000đ (Một t đồng) và giá trị tài sản trên đất gồm gian nhà lợp mái t n, cầu thang bằng s t, c ng trình phụ trên phần đất này là 100.000.000đ, t ng cộng giá trị đất và tài sản trên đất là 1.100.000.000đ.
Phía bị đơn là Ông Nguyễn văn T, bà Nguyễn Thị O trình bày: Ngày 12/9/2014 vợ chồng ng Nguy n Mạnh C, bà Trần Thị Anh P có chuyển nh ợng cho vợ chồng ông, bà thửa đất ở là thửa đất số 62 tờ bản đồ số 06 ở đ ờng Nguy n Trãi, khu Bồ Sơn, ph ờng Võ C ờng, thành phố B c Ninh, t nh B c Ninh có diện tích là 64,8m2 (phần diện tích đất này đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ng Nguy n Mạnh C, bà Trần Thị Anh P), trên thửa đất này có 01 ng i nhà trần 02 tầng có diện tích sử dụng mỗi tầng là 32,9m2 ; Ngoài ra ông C, bà P còn chuyển nh ợng cho vợ chồng ông, bà phần diện tích đất d i d ch a hợp thức hóa có diện tích là 29,75m2 với t ng trị giá chuyển nh ợng là 1.850.000.000đ (Một t tám trăm năm m ơi triệu đồng) và hai bên có viết giấy chuyển nh ợng viết tay kh ng có chứng thực của cơ quan, t chức nào; ông C, bà P có giao cho vợ chồng ông, bà một bộ hồ sơ xin hợp thức hóa phần đất d i d gồm có : Bản t ờng trình nguồn gốc đất ở và xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đề ngày 18/02/2014; Biên bản xét duyệt của Hội đồng đăng ký đất đai ngày 18/02/2014; th ng báo về việc xin đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đề ngày 18/02/2014; tờ khai xác định mốc, thời gian sử dụng đất ngày 18/02/2013; giấy chứng minh nhân dân của bà Trần Thị Anh P và của ng Nguy n Mạnh C; phiếu lấy ý kiến khu dân c ngày 18/02/2014; trích lục bản đồ thửa đất số 62 tờ bản đồ số 06; đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác g n liền với đất đề ngày 18/02/2014; biên bản kết thúc niêm yết xin đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác g n liền với đất ngày 18/3/2014; đơn xin xác nhận tình trạng của thửa đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác g n liền với đất.
Tại thời điểm ng C, bà P chuyển nh ợng nhà và đất ở cho vợ chồng ông, bà nêu trên thì trên phần đất đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có 01 ng i nhà trần 02 tầng có diện tích sử dụng mỗi tầng là 32,9m2 mái lợp t n, ng i nhà này làm chồng lấn lên phần đất d i d với kích th ớc khoảng 6m theo chiều d c thửa đất và chiều rộng khoảng 1,2m và có cầu thang bằng s t để đi lên tầng 2 của ng i nhà, chiếc cầu thang làm toàn bộ trên phần đất d i d . Ngoài ra c n có một gian nhà vệ sinh khoảng 1,5m2 làm trên cống thoát n ớc c ng cộng và có 01 cánh c ng bằng s t, ngoài ra kh ng có bất kỳ tài sản nào trên đất.
Đối với phần đất d i d nằm d c theo phần đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có kích th ớc là: rộng 1,7m, dài 18,5m, phần đất này nằm ở phía Đ ng nam của thửa đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sau khi nhận chuyển nh ợng đất từ vợ chồng ng C, bà P, vợ chồng ông, bà đã tháo dỡ cầu thang s t và tháo bỏ cánh c ng và xây dựng ng i nhà trần 03 tầng trên toàn bộ diện tích đất.
Nay bà L yêu cầu vợ chồng ông, bà phải trả cho bà L trị giá phần diện tích đất nằm ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Theo bà L g i là phần đất tạm giao) 35,53m2 với số tiền là 1000.000.000đ và giá trị tài sản trên phần diện tích đất tạm giao gồm: gian nhà lợp mái t n, cầu thang bằng s t, c ng trình phụ và cánh c ng bằng s t có trị giá bằng tiền là 100.000.000đồng , t ng cộng 1.100.000.000đ ông, bà kh ng nhất trí vì bà L đã chuyển nh ợng cho vợ chồng ông C, bà P và ông C, bà P đã chuyển nh ợng lại cho vợ chồng ông, bà.
Người có quy n lợi, nghĩa v liên quan là ông Nguyễn Mạnh C, bà Trần Thị Anh P trình bầy: Ngày 07 tháng 5 năm 2013 bà Nguy n Thị L có chuyển nh ợng cho vợ chồng ng, bà thửa đất số 62 tờ bản đồ số 06 có diện tích khoảng hơn 60m2 ở khu Bồ Sơn, ph ờng Võ C ờng, thành phố B c Ninh, t nh B c Ninh và phần diện tích đất d i d nằm d c theo thửa đất số 62 tờ bản đồ số 06. Trên thửa đất số 62 tờ bản đồ số 06 có 01 ng i nhà hai tầng, ng i nhà này làm gối lên phần đất d i d ; phần diện tích đất d i d này có diện tích khoảng trên d ới 30m2, trên phần đất d i d có cầu thang bằng s t để đi lên tầng 2 của ng i nhà và 01 gian mái vẩy; t ng giá trị chuyển nh ợng là 1.400.000.000đ (Một t bốn trăm triệu đồng) và hai bên có viết giấy chuyển nh ợng viết tay. Vợ chồng ông C, bà P đã thanh toán cho bà L làm nhiều đợt cụ thể nh sau:
Đợt 1 trả 500.000.000đ (Năm trăm triệu đồng);
Đợt 2 trả 500.000.000đ (Năm trăm triệu đồng);
Đợt 3 trả 400.000.000đ (Bốn trăm triệu đồng);
Ngày 13 tháng 5 năm 2013 đã trả cho bà L đ ợc 1.000.000.000đ (Một t đồng), c n số tiền 400.000.000đ (Bốn trăm triệu đồng) bà L ủy quyền cho ng T là chồng c của bà L nhận số tiền 400.000.000đ (Bốn trăm triệu đồng), vợ chồng ng, bà đã trả số tiền này cho ông T làm nhiều lần, đến ngày 15/8/2013 vợ chồng ng, bà đã trả đủ số tiền 400.000.000đ (Bốn trăm triệu đồng) cho ng T. Sau khi bà L chuyển nh ợng toàn bộ phần diện tích đất đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và phần diện tích đất d thừa ở liền sát thửa đất số 62, thì vợ chồng ng bà làm thủ sang tên đối với phần đất đã đ ợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và làm thủ tục hợp pháp hóa đối với phần đất d thừa ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà bà L đã chuyển nh ợng cho ng, bà. Sau đó do kh ng có nhu cầu sử dụng nên ng, bà đã chuyển nh ợng lại cho vợ chồng ng T, bà O và đã giao cho ng T, bà O bộ hồ sơ hợp pháp hóa đối với phần đất tạm giao. Nay bà L yêu cầu vợ chồng ng T, bà O phải trả lại cho bà L trị giá phần diện tích đất ngoài s đỏ và giá trị tài sản trên đất ngoài s đỏ, ông bà kh ng nhất trí vì phần diện tích đất d i d và các tài sản trên đất bà L đã chuyển nh ợng cho ng, bà và ng bà đã chuyển nh ợng lại cho ng T, bà O.
Từ nội dung trên bản án sơ thẩm đã căn cứ vào các điều 147, 227, 228, 239, 243, 254, 260, 261, 262, 264, 266, khoản 4 Điều 70 và Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự.
Áp dụng các Điều 389, 401, 405, 450, 608 Bộ luật dân sự năm 2005.
1. Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguy n Thị L yêu cầu ng Nguy n Văn T (Tên g i khác: V) và bà Nguy n Thị O phải trả lại cho bà Nguy n Thị L trị giá của 35,53m2 đất tạm giao là 1.000.000.000 đồng (Một t đồng) và giá trị tài sản trên đất là gian nhà lợp mái t n, cầu thang bằng s t, cánh c ng s t và c ng trình phụ trên phần đất này là 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng); T ng cộng là 1.100.000.000đ (Một t một trăm triệu đồng).
2. Tạm giao cho ng Nguy n Văn T (Tên g i khác: V) và bà Nguy n Thị O sử dụng 34,7m2 đất nằm xen kẹp giữa thửa đất số 62 tờ bản đồ số 06 của gia đình ng Nguy n Văn T (Tên g i khác: V), bà Nguy n Thị O và thửa đất của gia đình ng Tr ở cụm 1, khu Bồ Sơn, ph ờng Võ C ờng, thành phố B c Ninh, t nh B c Ninh. Ông T và bà O phải có trách nhiệm làm thủ tục với Cơ quan Nhà n ớc có thẩm quyền đối với phần diện tích đất tạm giao này.
Ngoài ra án sơ thẩm c n tuyên về án phí, lệ phí và quyền kháng cáo của các đ ơng sự.
Ngày 14/02/2019 bà Nguy n Thị L có đơn kháng cáo kh ng nhất trí với bản án sơ thẩm. Đề nghị cấp phúc thẩm tuyên: Buộc vợ chồng ng T, bà O phải trả cho bà giá trị phần diện tích đất tạm giao 35,53m2 (phần đất tiếp giáp thửa đất số 62, tờ bản đồ số 06, địa ch : cụm 1, khu Bồ Sơn, ph ờng Võ C ờng, thành phố B c Ninh, t nh B c Ninh) là 1000.000.000đ (Một t đồng) và giá trị tài sản trên đất là 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng).
Tại phiên t a phúc thẩm h m nay, bà Nguy n Thị L vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo. Các đ ơng sự kh ng thỏa thuận đ ợc với nhau về việc giải quyết vụ án.
Trong phần tranh luận, ng ời đại diện theo ủy quyền của bà L là chị Đặng Thị H cho rằng bà L ch bán cho vợ chồng ng C, bà P phần đất và tài sản trên đất đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chứ kh ng bán phần đất đ ợc T a án nhân dân t nh B c Ninh tạm giao. Việc trong giấy thỏa thuận mua bán nhà đất bà L có ghi đất d i d là phần đất d i d nằm phía sau thửa đất chứ kh ng có phần diện tích đất tạm giao, vì vậy chị H đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà L.
Về phía ng ời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ng T là luật s Trần Văn H đối đáp kh ng nhất trí với quan điểm của phía nguyên đơn, đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của bà L, giữ nguyên quyết định của bán án sơ thẩm.
Về phía ng ời có quyền lợi, ngh a vụ liên quan là ng Nguy n Mạnh C xác định khi ng mua đất của bà L là bao gồm cả đất đã đ ợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đất tạm giao chính vì vậy ng mới yêu cầu bà L viết trong giấy thỏa thuận mua bán đất bao gồm cả đất d i d so với bìa đỏ và khi chuyển nh ợng lại cho vợ chồng ng T thì ng bà c ng chuyển nh ợng cho ng T cả phần đất d i d , vì vậy ng kh ng nhất trí với quan điểm của phía nguyên đơn, ng đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của bà L.
Đại điện Viện kiểm sát nhân dân t nh B c Ninh tham gia phiên t a đ a ra quan điểm: Về việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán chủ t a phiên t a, Hội đồng xét xử, th ký phiênt a . Việc chấp hành pháp luật của ng ời tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý phúc thẩm cho đến phần tranh luận tại phiên t a là đảm bảo theo đúng trình tự quy định của pháp luật.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Kiểm sát viên xác định việc bản án sơ thẩm bác yêu cầu khởi kiện của bà Lăng là hoàn toàn ph hợp và có căn cứ tuy nhiên việc cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là Tranh chấp quyền sử dụng đất và bồi th ờng thiệt hại ngoài hợp đồng” là ch a chính xác vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự: Sửa bản án sơ thẩm để xác định lại quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án và xem xét mi n án phí sơ thẩm cho bà L.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đ ợc xem xét tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:
. Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Nguy n Thị L nộp trong hạn luật định là hợp lệ cần đ ợc xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
. Về nội dung: Năm 2006 T a án nhân dân t nh B c Ninh đã xét xử phúc thẩm vụ án ly h n giữa bà Nguy n Thị L và ông Nguy n Văn T, tại bản án số 21/2006/PT-DS ngày 21-22 tháng 3 năm 2006 của T a án nhân dân t nh B c Ninh đã phân chia tài sản chung của vợ chồng và đã giao cho bà L đ ợc quyền sử dụng thửa đất số 62 tờ bản đồ số 06 có diện tích 64,75 m2 (Chiều rộng 3,7m, chiều dài 17,5m) ở cụm 1, khu Bồ sơn, ph ờng Võ C ờng, thành phố B c Ninh, t nh B c Ninh; và tạm giao cho bà L 35,53m2 đất ch a hợp pháp. Phần đất tạm giao này nằm liền sát với thửa đất số 62 nêu trên. Sau khi đ ợc T a án phân chia đất bằng bản án nêu trên, bà L có xây nhà lán lợp mái t n, làm cầu thang bằng s t lên tầng 2 của ng i nhà trần. Trên thửa đất có diện tích 64,75 m2 tr ớc đó bà L và ông T có làm một nhà trần hai tẩng, ng i nhà này có làm lấn sang phần đất tạm giao chiều rộng là 1,75 m, chiều dài là 6m với diện tích 10,5m2.
Đến tháng 5 năm 2013 bà L đã chuyển nh ợng thửa đất số 62 tờ bản đồ số 06 c ng phần đất d i d của thửa đất này và tài sản trên đất ở cụm 1 khu Bồ Sơn, ph ờng Võ C ờng, thành phố B c Ninh, t nh B c Ninh cho vợ chồng ng Nguy n Mạnh C, bà Trần Thị Anh P, sau đó ng Nguy n Mạnh C và bà Trần Thị Anh P đã chuyển nh ợng lại cho vợ chồng ng Nguy n Văn T, bà Nguy n Thị O và hiện tại vợ chồng ng T, bà O vẫn đang ở trên thửa đất này.
Theo bà L và ng ời đại diện theo ủy quyền của bà L cho rằng vào thời điểm bà L chuyển nh ợng thửa đất số 62, tờ bản đồ số 06 ở khu Bồ Sơn, ph ờng Võ C ờng, thành phố B c Ninh và tài sản trên đất cho vợ chồng ng C, bà P thì bà ch chuyển nh ợng phần diện tích đất đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng là 64,8m2 và phần tài sản trên phần diện tích đất này chứ kh ng chuyển nh ợng phần diện tích đất và tài sản trên đất ở phần đất tạm giao vì vậy nay bà có yêu cầu vợ chồng ng T, bà O phải trả lại bà phần diện tích đất tạm giao là 35,53m2 và tài sản trên phần đất này cho bà theo trị giá là 1000.000.000đ tiền đất và 100.000.000đ tiền tài sản trên đất nh ng bản án sơ thẩm đã bác toàn bộ yêu cầu này của bà thì bà kh ng nhất trí.
Xét yêu cầu kháng cáo của bà L, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy:
Vào ngày 07/5/2013 giữa bà Nguy n Thị L và ng Nguy n Mạnh C đã phát sinh một thỏa thuận về việc mua bán, chuyển nh ợng nhà đất, theo nội dung của giấy thỏa thuận mua nhà đất lập ngày 07/5/2013 và đ ợc viết b sung ngày 13/5/2013 thì giữa bà Nguy n Thị L với ng Nguy n Mạnh C có thỏa thuận với nội dung bà L đồng ý bán cho ng C thửa đất số 62 tờ bản đồ số 06 có diện tích 64,8m2 ở cụm 1, khu Bồ sơn, ph ờng Võ C ờng, thành phố B c Ninh, phần đất này đã đ ợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tuy nhiên ngoài phần diện tích đất này thì bà L c n đ ợc tạm giao sử dụng 35,53m2 đất ch a đ ợc hợp thức hóa để c ng nhận quyền sử dụng nằm sát với phần diện tích đất đã đ ợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng, nguồn gốc đất tạm giao này là phần đất trong quá trình sử dụng thì vợ chồng ng bà có tân lấp cơi nới đến khi vợ chồng bà ly h n thì T a án nhân dân t nh B c Ninh tạm giao cho bà sử dụng vì phần đất này sử dụng ph hợp quy hoạch, bà ch cần đề nghị cấp có thẩm quyền xem xét phê duyệt và thực hiện ngh a vụ tài chính là đ ợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng chính vì vậy trong giấy thỏa thuận mua bán nhà đất giữa bà L và ng C lập ngày 07/5/2013 và đ ợc viết b sung ngày 13/5/2013 bà L có ghi T ng số tiền l đất và tài sản trên đất + đất d i d là 1.400.000đ (Một t bốn trăm triệu đồng chẵn). Do đất của bà L một phần đã đ ợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và một phần là đất tạm giao nên đến ngày 09 tháng 5 năm 2013 bà Nguy n Thị L và vợ chồng ng Nguy n Mạnh C, bà Trần Thị Anh P ch làm hợp đồng chuyển nh ợng đất và tài sản g n liền với đất đối với phần đất đã đ ợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại Văn ph ng c ng chứng Kinh B c, trong khi đó ngôi nhà trần hai tầng của gia đình bà L xây dựng tr ớc đó trên thửa đất số 62, một phần của ng i nhà xây trên phần diện tích đất tạm giao với diện tích là 10,5 m2; Sau khi t a án nhân dân t nh B c Ninh xét xử phúc thẩm việc ly h n giữa bà L với ng T và đã phân chia cả tài sản chung của vợ chồng, bà L phải làm cầu thang bằng s t để lên tầng 2 của ng i nhà bà L đ ợc phân chia, chiếc cầu thang này làm toàn bộ trên phần đất tạm giao. Nh vậy một phần của giấy thỏa thuận mua nhà đất lập ngày 07/5/2013 và đ ợc viết b sung ngày 13/5/2013 giữa bà Nguy n Thị L với ng Nguy n Mạnh C có một phần diện tích nhà nằm trên đất tạm giao, việc bà L cho rằng chuyển nh ợng nhà cho ng ời khác mà kh ng chuyển theo quyền sử dụng đất là kh ng có cơ sở để chấp nhận. Mặt khác phần diện tich đất tạm giao này có chiều rộng là 1,7m và chiều dài 18,5m kh ng đủ điều kiện để tách thành thửa riêng biệt mà phải g n liền với phần diện tích của thửa đất số 62 tờ bản đồ số 06 mới đủ điều kiện để đ ợc hợp thức hóa. Do vậy cần xác định bà Nguy n Thị L đã chuyển quyền sử dụng đối với phần diện tích đất tạm giao của mình và chuyển nh ợng các tài sản trên phần đất này cho ng C, bà P c ng với phần diện tích đất đã đ ợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng tại thửa đất số 62 tờ bản đồ số 06 tại cụ 1 khu Bồ sơn, ph ờng Võ c ờng, thành phố B c Ninh theo giấy thỏa thuận mua nhà đất lập ngày 07/5/2013 và đ ợc viết b sung ngày 13/5/2013 là thực tế, bên bán đã nhận đủ tiền, c n bên nhận chuyển nh ợng đã nhận tài sản do vậy hợp đồng chuyển nh ợng đất và tài sản trên đất giữa bà L và ng C lập ngày 07/5/2013 và đ ợc viết b sung ngày 13/5/2013 là hợp đồng có hiệu lực và hợp pháp; việc vợ chồng anh T, chị O sau đó đã đ ợc vợ chồng ng Nguy n Mạnh C, bà Trần Thị Anh P chuyển nh ợng quyền sử dụng phần diện tích đất tạm giao 34,7m2 này c ng là hoàn toàn hợp pháp, việc sử dụng phần diện tích đất tạm giao và tài sản trên phần đất tạm giao nằm liền kề thửa đất số 62 tờ bản đồ 06 của vợ chồng ng T, bà O là có căn cứ pháp luật, do đó Bản án sơ thẩm đã bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguy n Thị L và tuyên Tạm giao cho ng Nguy n Văn T và bà Nguy n Thị O đ ợc quyền sử dụng 34,7m 2 nằm xen kẹp giữa thửa đất số 62 tờ bản đồ số 06 và thửa đất ở của gia đình ng Tr là hoàn toàn có căn cứ và ph hợp với quy định của pháp luật.
Tuy nhiên việc bản án sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật trong vụ án là Tranh chấp quyền sử dụng đất và bồi th ờng thiệt hại ngoài hợp đồng” và áp dụng Điều 608 Bộ luật dân sự là ch a chính xác bởi căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi th ờng thiệt hại theo Điều 604 Bộ luật dân sự năm 2005 là: Ng ời nào có lỗi cố ý hoặc v ý xâm phạm đến tài sản ng ời khác mà gây thiệt hại thì phải bồi th ờng. trong quan hệ tranh chấp này kh ng ai cố ý hoặc v ý xâm phạm tài sản của ai mà theo đơn khởi kiện thì bà L đang cho rằng vợ chồng anh T, chị O đang sử dụng đất và tài sản trên đất tạm giao của bà L. Về phía anh Tu, chị O cho rằng việc anh chị sử dụng, sở hữu đất và tài sản trên phần đất tạm giao có nguồn gốc của bà L là th ng qua hợp đồng chuyển nh ợng quyền sử dụng đất và tài sản trên đất nh vậy quan hệ tranh chấp ở đây phải là Tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản trên đất. Song việc xác định quan hệ pháp luật và áp dụng pháp luật của cấp sơ thẩm kh ng làm ảnh h ởng đến bản chất và quyền lợi của các đ ơng sự nh ng để xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án và các điều luật phải áp dụng, Hội đồng xét xử thấy cần phải sửa bản án sơ thẩm để xác định lại quan hệ pháp luật và điều luật áp dụng.
Đối với yêu cầu xin mi n án phí của bà L tại phiên t a phúc thẩm, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy bà L là ng ời cao tu i nên theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của y ban th ờng vụ Quốc hội khóa 14 ngày 30/12/2016 thì bà L thuộc tr ờng hợp đ ợc mi n nộp án phí và án phí. Tuy nhiên để đ ợc xem xét mi n án phí thì theo quy định tại Điều 14 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của y ban th ờng vụ Quốc hội khóa 14 ngày 30/12/2016 bà L phải làm đơn nêu rõ lý do xin mi n. Quá trình giải quyết vụ án bà L đã kh ng làm đơn xin mi n án phí và nêu lý do xin mi n án phí vì vậy Hội đồng xét xử thấy bà L kh ng đủ điều kiện để đ ợc xem xét mi n án phí.
Về án phí phúc thẩm: Bà L kh ng phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 147, Điều148, khoản 2 Điều 308; Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự: Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 05/2019/DS-ST ngày 31/01/2019 của T a án nhân dân thành phố B c Ninh.
Căn cứ vào các Điều 26,147, 227, 228, 239, 243, 254, 260, 261, 262, 264, 266, khoản 4 Điều 70 và Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự.
Áp dụng các Điều 170, 183, 234, 688 Bộ luật dân sự năm 2005.
Nghị quyết số 326/2016-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban th ờng vụ Quốc hội khóa 14 qui định về mức thu, mi n, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí T a án, xử:
1. Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguy n Thị L đ i ng Nguy n Văn T (Tên g i khác: V) và bà Nguy n Thị O phải trả lại cho bà Nguy n Thị L trị giá của 35,53m2 đất tạm giao là 1.000.000.000 đồng (Một t đồng) và giá trị tài sản trên đất là gian nhà lợp mái t n, cầu thang bằng s t, cánh c ng s t và công trình phụ trên phần đất này là 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng); T ng cộng là 1.100.000.000đ (Một t một trăm triệu đồng).
2. Tạm giao cho ng Nguy n Văn T (Tên g i khác: V) và bà Nguy n Thị O sử dụng 34,7m2 đất nằm xen kẹp giữa thửa đất số 62 tờ bản đồ số 06 của gia đình ng Nguy n Văn T, bà Nguy n Thị O và thửa đất của gia đình ng Tr ở cụm 1, khu Bồ Sơn, ph ờng Võ C ờng, thành phố B c Ninh, t nh B c Ninh (Có sơ đồ kèm theo). ng T và bà O phải có trách nhiệm làm thủ tục với Cơ quan Nhà n ớc có thẩm quyền đối với phần diện tích đất tạm giao này.
Bà Nguy n Thị L phải chịu toàn bộ chi chí xem xét thẩm định và định giá tài sản là 6.500.000đ (Sáu triệu năm trăm nghìn đồng). Xác nhận bà Nguy n Thị L đã nộp đủ.
3. Về án phí: Bà Nguy n Thị Lăng phải chịu 37.639.716đ (Ba m ơi bẩy triệu sáu trăm ba m ơi chín nghìn bẩy trăm m ời sáu đồng) án phí DSST. Đ ợc đối trừ số tiền 18.000.000đ bà Nguy n Thị L đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2013/01962 ngày 14/4/2017 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố B c Ninh. Bà Nguy n Thị L c n phải nộp 19.639.716 đồng án phí DSST.
Bà Nguy n Thị L kh ng phải chịu án phí phúc thẩm. Hoàn trả bà Nguy n Thị L số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2018/0001633 ngày 13/02/2019 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố B c Ninh song tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Các đ ơng sự; - TAND thành phố B c Ninh - VKSND t nh B c Ninh; - Chi cục THADS TP B c Ninh; - L u hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ho ng Tu n Anh |