vanban.org

Bản án 68/2019/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L

Buộc bà Phạm Thị Thu D phải có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị L số tiền 50.000.000 đồng ( Năm mươi triệu đồng) Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2019/DS-ST
Ngày: 22-5-2019
V/v Tranh chấp hợp đồng vay

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA N NHÂN ÂN HUYỆN CHÂU THÀNH,TỈNH AN GIANG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ ung

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Thành Hiệp

Ông Trương Thành Tuấn

-Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Anh Đào là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.

-Đ i di n Vi n ki m sát nhân dân huy n Châu Thành tham ia phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Phương – Kiểm sát viên

Ngày 22 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành t ử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 50/2019/TLST- DS ngày 25 tháng 2 năm 2019 về tranh chấp hợp đồng vay theo Quyết định đưa vụ án ra t ử số: 65/2018/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 4 năm 2019 giữa các đương sự:

- N uyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm: 1950 (có mặt)

Nơi cư trú: Tổ 19, ấp Hòa P, TT A, huyện C, tỉnh An Giang.

-Bị đơn: Bà Phạm Thị Thu , sinh năm: 1970 (Vắng mặt)

Nơi cư trú: ấp Hòa L, TT A, huyện C, tỉnh An Giang.

NỘI UNG VỤ N

Trong đơn khởi kiện, tờ tự khai cùng ngày 19/2/2019 và lời khai tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn bà Nguyễn Thị L trình bày:

Vào cuối tháng 11 năm 2018 al, cô Phạm Thị Thu D có mượn của bà số tiền là 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng) để chuộc e. Hẹn trong vòng 10 ngày sẽ hoàn trả đủ số tiền này lại cho bà, bà không tính tiền lãi

Sau đó cũng trong ngày cô D có mượn thêm của bà số tiền 10.000.000 đồng, cũng hẹn trong vòng 10 ngày sẽ hoàn trả đủ số tiền này lại cho bà, bà không tính tiền lãi. Tổng cộng cô Phạm Thị Thu D mượn của bà số tiền 50.000.000 đồng. Sau đó, quá thời gian hẹn, cô Phạm Thị Thu D không thực hiện lời hứa, chỉ hứa lần lựa, nại ra nhiều lý do không trả cho bà được đồng nào. Tại đơn khởi kiện bà Nguyễn Thị L yêu cầu bà Phạm Thị Thu D phải có nghĩa vụ trả số tiền 50.000.000 đồng và yêu cầu tính lãi suất, nhưng tại phiên tòa hôm nay bà Nguyễn Thị L yêu cầu bà Phạm Thị Thu D phải có nghĩa vụ trả số tiền 50.000.000 đồng và bà rút lại không yêu cầu tính lãi suất.

Đối với bị đơn bà Phạm Thị Thu : Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt và niêm yết hợp lệ thông báo thụ lý, các thông báo về phiên họp kiểm tra về việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo về việc thu thập được tài liệu, chứng cứ và thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ nhưng bà D v n vắng mặt các buổi phiên họp giao nộp chứng cứ và hòa giải. Tòa án cũng tiến hành ác minh lại sự vắng mặt của bà D tại địa phương. Qua ác minh tại địa phương thì bà Dcó hộ khẩu thường trú tại ấp Hòa L, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu quan điểm cho rằng: Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng t ử, thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng được pháp luật quy định tại Bộ Luật Tố tụng Dân sự năm 2015 và các văn bản pháp luật có liên quan. Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án, kết quả việc hỏi tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến. Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA N:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện Châu Thành nhận định:

[1]Về thủ tục tố tụng: Bà Phạm Thị Thu D là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án nhân dân huyện Châu Thành tống đạt, niêm yết quyết định đưa vụ án ra t ử và quyết định hoãn phiên toà hợp lệ đến lần thứ hai nhưng bà Phạm Thị Thu D v n vắng mặt không lý do. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng t ử v n tiến hành t ử vắng mặt bà Phạm Thị Thu D theo quy định pháp luật.

[2]Về nội dung tranh ch p:

[2.1] Tại đơn khởi kiện ngày 19/2/2019 bà Nguyễn Thị L khởi kiện yêu cầu bà Phạm Thị Thu D phải trả số tiền vốn là 50.000.000 đồng và yêu cầu tính lãi suất theo quy định pháp luật. Tuy nhiên tại phiên tòa hôm nay bà L rút lại yêu cầu không yêu cầu tính lãi suất mà yêu cầu bà D trả tiền vốn 50.000.000 đồng. X t thấy, đối với việc rút lại một phần yêu cầu của nguyên đơn là không vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu. Nghĩ nên chấp nhận là phù hợp.

[2.2] Mối quan hệ hợp đồng vay tài sản giữa bà Nguyễn Thị L và bà Phạm Thị Thu D trên thực tế là có ảy ra trên cơ sở hai tờ biên nhận mượn tiền với số tiền 10.000.000 đồng và số tiền 40.000.000 đồng. Trong quá trình vay nợ bà D không đóng lãi và không trả vốn và lãi theo thỏa thuận. Tại phiên tòa hôm nay bà L yêu cầu bà D phải trả một lần số tiền còn thiếu là 50.000.000 đồng. Còn bà Phạm Thị Thu D trong quá trình giải quyết vụ án, từ khi tòa án thụ lý vụ án cho đến khi mở phiên tòa t ử sơ thẩm thì bà D không đến tòa tham gia hòa giải và cũng như không cung cấp chứng cứ cũng như văn bản để có ý kiến về việc khởi kiện của bà L. Do đó bà Dphải chịu hậu quả của việc không cung cấp chứng cứ chứng minh của mình. Xét thấy, trong mối quan hệ vay tài sản bà Phạm Thị Thu D là người có lỗi, vì không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình là trả vốn khi đến hạn. Việc vi phạm này đã ít nhiều cũng làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà L. Do đó, nghĩ nên chấp nhận yêu cầu của bà L buộc bà Dphải có nghĩa vụ trả nợ một lần số tiền 50.000.000 đồng là hoàn toàn phù hợp.

[3]Về án phí dân sự sơ thẩm:

Theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Bà Nguyễn Thị L được miễn tiền tạm ứng án phí, án phí (do người cao tuổi có đơn ác nhận của Ủy ban nhân dân thị trấn An Châu ngày 25/2/2019)

- Bà Phạm Thị Thu D phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, 228, 235, 244, 273, 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L

2.Buộc bà Phạm Thị Thu D phải có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị L số tiền 50.000.000 đồng ( Năm mươi triệu đồng)

3.Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án ong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

4.Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L đối với yêu cầu rút lại phần lãi suất

5.Về án phí dân sự sơ thẩm:

-Bà Nguyễn Thị L được miễn tiền tạm ứng án phí, án phí (do người cao tuổi có đơn ác nhận của Ủy ban nhân dân thị trấn An Châu ngày 25/2/2019)

-Bà Phạm Thị Thu D phải chịu 2.500.000đ (Hai triệu năm trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

6.Về kháng cáo: Bà Nguyễn Thị L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 22/5/2019). Bà Phạm Thị Thu D được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

7.Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ