vanban.org

Bản án 68/2019/DS-PT — Tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự

TAND tỉnh Tây Ninh Tuyên án 02/04/2019 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 02/04/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không ch p nhận kháng cáo của cụ Mai Thị N.

Giữ nguyên bản án sơ thẩm. Không ch p nhận yêu cầu khởi kiện về việc “ ranh ch p iên quan đến tài sản bị cưỡng chế thi hành án” của cụ Mai Thị N đối với ông Trần Văn H và bà Huỳnh Thị N1. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự — án dân sự — "Cụ Mai Thị N - ông Trần Văn H"
  • Tòa quyết gì? Không ch p nhận kháng cáo của cụ Mai Thị N.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 256 Bộ luật Dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2019/DS-PT
Ngày: 02- 4- 2019
V/v “ ranh ch iên quan đến
tài sản bị cưỡng chế thi hành án”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Son

Các thẩm phán:

Ông Nguyễn Văn Tòng

Ông Lâm Văn Be

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Nguyện.

Ngày 02 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 62/2019/TLPT-DS ngày 11 tháng 01 năm 2019 về việc “Tranh ch iên quan đến tài sản bị cưỡng chế thi hành án”. Do bản án dân sự sơ thẩm số: 172/2018/DS-ST ngày 06 tháng 12 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 136/2019/QĐP -DS ngày 13 tháng 3 năm 2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Cụ bà Mai Thị N, sinh năm 1947; địa chỉ: Số 14/3, khu phố NT, hường NS, thành phố TN, tỉnh T1; vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của bà N: Anh Võ Quốc T, sinh năm 1984; địa chỉ: Số 273, đường Lạc Long Quân, xã HT, huyện HT1, tỉnh T1 - Là người đại diện theo ủy quyền; có mặt.

2. Bị đơn: Ông Trần Văn H, sinh năm 1965 và bà Huỳnh Thị N1, sinh năm 1963; cùng địa chỉ: Số 126, Đường Điện Biên Phủ, khu phố NT, hường NS, thành phố TN, tỉnh T1; vắng mặt.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Chi cục Thi hành án dân sự thành phố TN; địa chỉ: Số 137, đường Nguyễn Trãi, khu phố 6, hường 4, thành phố TN, tỉnh T1.

Người đại diện hợp pháp: Ông Trần Quốc B- Ch p hành viên- Là người đại diện theo ủy quyền; có mặt.

3.2. Ông Đặng Khánh G, sinh năm 1963; địa chỉ: Số 122, đường Điện Biên Phủ, khu phố NT, hường NS, thành phố TN, tỉnh T1; có mặt ngày 30/11/2018, vắng mặt.

4. Người kháng cáo: Nguyên đơn cụ Mai hị N.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo nội dung án sơ thẩm:

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn – Anh Võ Quốc T trình bày:

Ông Trần Văn H và bà Huỳnh Thị N1 à người phải thi hành án theo Quyết định thi hành án số 228/QĐ-CCTHA ngày 24-7-2015 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố TN, tỉnh T1.

Ngày 21-01-2016, Chi cục Thi hành án ban hành Quyết định kê biên số 15/QĐ-CCTHA kê biên phần nhà và đ t của ông H số 45, tọa lạc KP NT, hường NS, thành phố TN. uy nhiên, căn nhà c p 4A trên phần đ t này c t l n sang đ t của bà N diện tích là 0,43m x 30,49m = 13,1 m2 (đất theo GCN QSDĐ số 04976/QSDĐ/450610 UBND huyện HT1 cấp ngày 23-7-1997). Tại biên bản này cụ N do già yếu, nhầm lẫn nên đã ký ch p nhận kê biên với nội dung sau khi bán phải trả lại tiền cho bà tương ứng với diện tích đ t này.

Nay cụ N th y việc thỏa thuận tại biên bản kê biên nêu trên dẫn đến thiệt hại quyền lợi của bà. Cụ thể như sau:

Thứ nh t: Cụ không phải là người phải thi hành án nhưng ại bị thiệt hại về giá bán đ u giá, cụ thể là giảm giá nhiều lần, làm m t giá trị đ t.

Thứ hai: Cụ không được tham gia các thủ tục bán đ u giá như ựa chọn tổ chức bán đ u giá, thỏa thuận giá theo quy định của pháp luật.

Thứ ba: Cụ không có ý định bán hay chuyển nhượng đ t. Về thủ tục pháp lý của thửa đ t thì phát sinh nhiều v n đề như chuyển dịch QSDĐ của cụ N sang cho ông H để kê biên bán đ u giá hoặc khi chuyển giao cho bên mua trúng đ u giá phát sinh nhiều v n đề như đăng ký biến động, điều chỉnh lại gi y chứng nhận QSDĐ.

Về hình thức, thỏa thuận kê biên là một hợ đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đ t nhưng không tuân thủ về hình thức cũng như nội dung hợ đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đ t thì sẽ không thể căn cứ vào đây để điều chỉnh gi y chứng nhận QSDĐ của cụ N.

Do đó, cụ N khởi kiện yêu cầu ông H, bà N1 trả lại phần đ t có diện tích 13,1m 2 (ngang 0,43, dài 30,49m) tọa lạc tại khu phố NT, hường NS, thành phố TN, tỉnh T1.

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện ủy quyền anh T trình bày: Theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 09/11/2018 kết quả đo đạc từ ranh đ t nhà ông H đo qua sát vách tường của cụ N có số đo ngang trước 0,6m- ngang sau 0,5m là diện tích nằm trong gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t do cụ N đứng tên. Do đó, cụ N khởi kiện bổ sung yêu cầu ông H, bà N1 phải có nghĩa vụ trả lại cho cụ diện tích đ t ngang trước 0,6m-ngang sau 0,5m, trường hợp không trả đ t thì yêu cầu định giá đ t theo giá đ t thực tế hiện nay. Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t trước đây cụ N có thế ch p vay tiền ở Quỹ tín dụng nhân dân NS, nhưng cụ N đã thanh toán nợ với Quỹ tín dụng NS, hiện nay không còn nợ. Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số 04976/QSDĐ/450610 do UBND huyện HT1 c p cho cụ Mai Thị N vào ngày 23 tháng 7 năm 1997, hiện cụ N đang quản lý, không cầm cố thế ch p cho ai.

* Theo bản tự khai, biên bản lấy lời khai của đồng bị đơn – Ông H, bà N1 trình bày:

Cụ N là mẹ ruột của bà N1, ông H là con rể. Do àm ăn thua ỗ, không có tiền trả nợ nên phần đ t của ông H, bà N1 bị cơ quan thi hành án cưỡng chế là kê biên, phát mãi tài sản gồm nhà xây trên đ t ngang 04m, dài 30m, nhà ông 03 vách còn 01 vách tường xây chung vách với nhà cụ N (vách tường này nằm trong đ t cụ N và do cụ N bỏ tiền xây). Ông xác định nhà của ông sử dụng diện tích nhiều hơn so với diện tích được c p quyền sử dụng đ t vì cụ N cho đ t thêm để xây nhà rộng hơn và có cả phần thi hành án kê biên phát mãi ngang 0,43m, dài 30,49m tổng cộng 13,1 m2. Do đi àm ăn xa nên t t cả mọi thủ tục bán đ u giá đều gửi cho cụ N. Việc thi hành án niêm yết công khai việc bán đ u giá tài sản và hạ giá tài sản do không có người mua ông có ký tên vì ông cho là gửi gi y thì ông ký nhận không đòi hỏi gì và do không biết nên ông không hỏi. Phần đ t hát mãi bán đ u giá của ông với diện tích 4m x 30m, ông có xin sau đám đại tường con trai ông thì ông đồng ý giao nhưng đến thời điểm hiện tại ông không đồng ý giao là do ông th y nhà đ t của ông bán quá rẻ. Quá trình thi hành án kê biên bán đ u giá tài sản ông và cụ N không có thắc mắc, khiếu nại về v n đề định giá và bán đ u giá vì không có nghĩ đến v n đề này. Nay cụ N khởi kiện yêu cầu ông trả lại đ t, ông không còn đ t để trả cho cụ N do thi hành án đã kê biên và bán cho ông G xong.

Nhà của vợ chồng ông xây cùng thời gian với nhà của cụ N và cụ N có nói cho vợ chồng ông thêm diện tích xây nhà trong đó có hần thi hành án đã kê biên và cùng sử dụng chung vách nhà với cụ N. Việc cụ N cho thêm diện tích đ t không làm gi y tờ và không thực hiện thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đ t.

Về v n đề kê biên, ch p hành viên có làm việc với ông và ông có trình bày căn nhà xây dựng 03 bức vách, 01 vách sử dụng chung với cụ N và ông biết được mẹ của ông là cụ N đồng ý ký tên biên bản kê biên. Theo ông H, bà N1 cho rằng cụ N ký tên biên bản kê biên là ký tứ cận, không phải ký đồng ý cho kê biên phần diện tích đ t 13,1m2.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan- Đại diện ủy quyền của Chi cục thi hành án dân sự thành phố TN, tỉnh T1, ông Trần Quốc B trình bày:

Ông H, bà N1 à người phải thi hành án theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án và ông H, bà N1 có nghĩa vụ thi hành án cho những người được thi hành án với tổng số tiền 1.870.892.000 đồng, lãi su t chậm thi hành án và án phí, ngoài ra phải trả nợ cho Quỹ tín dụng nhân dân Phường 3 số nợ gốc là 300.000.000 đồng và lãi su t. Sau khi hết thời gian tự nguyện thi hành án, ông H, bà N1 không có nguồn tiền nộp thi hành án, Quỹ tín dụng nhân dân Phường 3 đồng ý để Chi cục Thi hành án dân sự (viết tắt THADS) thành phố TN kê biên xử lý tài sản thế ch p gồm: Quyền sử dụng đ t tại thửa số 453, tờ bản đồ số 45, diện tích 122m2 tọa lạc tại khu phố NT, hường NS, thành phố TN, tỉnh T1; 01 căn nhà 4A có diện tích 11,408 m2 trên đ t; quyền sử dụng đ t tại thửa số 461, tờ bản đồ số 45, diện tích kê biên 0,43 m x 30,49 m = 13,1 m2 tọa lạc tại khu phố NT, hường NS, thành phố TN, tỉnh T1 ( à đ t của cụ Mai Thị N, mẹ ruột bà N1). Căn nhà ông H, bà N1 c t l n sang đ t cụ N là 13,1m2 nhưng cụ N tự nguyện đồng ý cho Chi cục THADS thành phố TN kê biên xử ý để đảm bảo giá trị căn nhà, nếu phá bỏ phần diện tích căn nhà xây dựng l n sang đ t cụ N thì sẽ bị giảm giá trị, đồng thời cụ N yêu cầu khi hát mãi được tài sản nhà đ t thì hoàn trả lại cho bà phần giá trị của diện tích đ t 13,1m2, nội dung này được thể hiện trong biên bản giải quyết việc thi hành án lập ngày 12/01/2016 và biên bản kê biên tài sản ngày 11/3/2016. Ngày 17/8/2017, đã bán đ u giá số tài sản trên và được ông Đặng Khánh G mua với giá 742.077.000 đồng. Sau khi bán đ u giá tài sản, ngày 11/9/2017, Ch p hành viên ban hành thông báo cho các bên biết để giao tài sản cho người mua, cùng ngày giữa ông H, bà N1 và ông G thỏa thuận ngày 15/9/2017 sẽ giao tài sản cho ông G nhưng ông H, bà N1 xin ông G cho ở lại nhà nêu trên đến ngày 05/02/2018 để àm đám đại tường cho con trai xong sẽ tự nguyện dọn tài sản ra khỏi nhà đ t, giao đ t lại cho ông G. Ngày 15/9/2017, Ch hành viên cùng các cơ quan hữu quan xuống nhà giao tài sản như thỏa thuận nhưng ông H, bà N1 không tự nguyện giao. Ngày 09/10/2017, Chi cục thi hành án nhận được đơn khiếu nại của cụ Mai Thị N với nội dung đề nghị cho bà được ưu tiên mua ại nhà đ t của ông H, bà N1 với giá bán đ u giá mà ông G đã mua trúng với giá 724.077.000 đồng và đơn kiếu nại của vợ chồng ông H, bà N1 gởi đơn khiếu nại cơ quan thi hành án với nội dung đề nghị chi tiền theo tỷ lệ cho t t cả những người đang được thi hành án. Ngày 24/11/2017, Thủ trưởng cơ quan thi hành án ban hành văn bản số 981 trả lời cho ông H, bà N1 về nội dung đề nghị chi tiền theo tỷ lệ cho t t cả những người đang được thi hành án và đề nghị của cụ N à được ưu tiên mua ại nhà đ t của ông H, bà N1 là không có cơ sở để giải quyết. Sau đó, cụ N nộ đơn khởi kiện yêu cầu ông H, bà N1 trả lại diện tích đ t 13,1m2. Ngày 22/3/2018, Tòa án nhân dân thành phố TN ban hành Quyết định số 28/2018/QĐS -DS để đình chỉ việc yêu cầu khởi kiện của cụ N. Ngày 02/4/2018, Ch p hành viên ban hành quyết định số số 18/QĐ.CC HA và Kế hoạch cưỡng chế số 249/KH.CC HA ngày 17/4/2018 để cưỡng chế giao tài sản cho ông G. Ngày 13/8/2018, Chi cục THADS nhận được kế hoạch bảo vệ cưỡng chế của CA thành phố TN, Chi cục THA ra Thông báo số 194/ B.CC HA ngày 16/8/2018 để tiến hành cưỡng chế vào lúc 07 giờ 30 phút ngày 27/8/2018. Tuy nhiên, vào lúc 15 giờ ngày 24/8/2018, Chi cục THA nhận được QĐ số 15/2018/QĐ-PT ngày 18/5/2018 của TAND tình T1 xét xử và hủy Quyết định số 28/2018/QĐS -DS ngày 22/3/2018 của TAND thành phố TN, giao hồ sơ để TAND thành phố TN thụ lý và tiếp tục giải quyết đơn của cụ N. Quan điểm của Chi cục HA à đề nghị TAND thành phố TN xem xét giải quyết giao toàn bộ diện tích nhà đ t của ông H, bà N1 tại thửa số 453, tờ bản đồ số 45, diện tích 122m2, tọa lạc tại khu phố NT, hường NS, thành phố TN, tỉnh T1 và tài sản gắn liền trên đ t, kể cả phần diện tích tại thửa số 461, tờ bản đồ số 45, diện tích kê biên 0,43m x 30,49 = 13,1m2, tọa lạc tại khu phố NT, hường NS, thành phố TN, tỉnh T1 cho người mua đ u giá thành à ông Đặng Khánh G.

Tại hiên tòa sơ thẩm, ông B trình bày phía cụ N cho rằng phần diện tích đ t 13,1m2 hiện nay có giá thực tế à 172.000.000 đồng (Một trăm bảy mươi hai triệu đồng), ông B xác định v n đề này phải được người được thi hành án đồng ý, và thi hành án làm việc hỏi ý kiến người được thi hành án, t t cả không đồng ý trích từ tiền bán đ u giá tài sản, do đó thi hành án không thực hiện được việc chi trả cho cụ N số tiền mà cụ N yêu cầu.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan- ông Đặng Khánh G trình bày:

Ông à người hàng xóm với cụ N, giá ranh đ t nhà của ông H, bà N1. Ông th y thi hành án thành phố TN niêm yết thông báo bán đ u giá tài sản phần đ t diện tích đ t của ông H, bà N1 và mục đích muốn mở rộng diện tích đ t của mình, nên ông đã đăng ký đ u giá và trúng thầu với giá à 742.077.000 đồng nhưng đến nay ông chưa nhận được tài sản vì cụ N khiếu nại, khởi kiện đến Tòa án nên thi hành án chưa tiến hành giao tài sản bán đ u giá. Cụ N yêu cầu trả lại phần diện tích đ t 13,1 m2 thì ông đồng ý trả lại với điều kiện tài sản mua đ u giá trúng giá mà ông đã nộp tiền tại thi hành án thành phố TN thì phải kh u trừ lại phần diện tích của cụ N theo sự thỏa thuận giữa cụ N với Thi hành án và đồng thời yêu cầu phía thi hành án phải dùng số tiền ông mua được xây lại cho ông bức tường kiên cố để không bị m t giá trị căn nhà hoặc yêu cầu đập bỏ căn nhà để ông mua lại phần đ t trống ngang 4m thì không iên quan đến phần đ t của cụ N.

Tại phiên tòa sơ thẩm, ông G trình bày hía đại diện ủy quyền khởi kiện bổ sung đòi ông H, bà N1 trả lại diện tích đ t theo kết quả thẩm định ngang trước 0,6m ngang sau 0,5m trong đó có diện tích ngang 0,43m dài 30,49 m ông đã mua đ u giá trúng giá. Việc cụ N khởi kiện bổ sung ông không có ý kiến gì, ông yêu cầu được nhận tài sản mua trúng đ u giá à đúng diện tích đ t và tài sản trên đ t.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 172/2018/DS-ST ngày 06-12-2018 của Tòa án nhân dân thành phố TN, tỉnh Tây Ninh tuyên xử:

Căn cứ vào Điều 256, Điều 688 của Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 688 Bộ luật dân sự 2015;Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:

Không ch p nhận yêu cầu khởi kiện về việc “ ranh ch p iên quan đến tài sản bị cưỡng chế thi hành án” của cụ Mai Thị N đối với ông Trần Văn H và bà Huỳnh Thị N1.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 19-12-2018, cụ Trần Thị N có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Yêu cầu cầu c p phúc thẩm xét xử hủy toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của cụ Mai Thị N thay đổi yêu cầu kháng cáo, để nghị sửa án sơ thẩm theo hướng cụ N được nhận lại diện tích đ t nằm trong gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t của cụ N.

Tại hiên tòa, các đương sự không cung c p chứng cứ gì mới, hai bên không tự thỏa thuận được v n đề giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

Xét yêu cầu kháng cáo của cụ Mai Thị N th y rằng:

Về tố tụng: Xét đơn kháng cáo của cụ N trong thời hạn luật định, cụ thuộc trường hợ được miễn án phí dân sự phúc thẩm nên hợp lệ về hình thức.

Về nội dung: heo đơn khởi kiện, cụ N yêu cầu ông H, bà N1 trả phần đ t có diện tích 13,1 m2 (0,43m x 30,49m) nằm trong gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t cụ N, được c p từ ngày 23-3-1997. Bà N1 là con, ông H là con rễ của cụ N, có đ t giáp ranh, liền kề đ t của cụ N. Tại biên bản ghi lời khai của ông H (bút lục 120) khai: Vợ chồng ông có mua đ t của chú vợ Huỳnh Văn ám 04m x 30m, năm 2000 xây nhà cùng úc với nhà của cụ N, cụ N đồng ý cho xây bức tường sử dụng chung trên diện tích 13,1 m2 đ t của cụ N. Do vợ chồng ông H, bà N1 nợ nhiều người, không có khả năng chi trả nên nhà, đ t của ông H, bà N1 bị có quan thi hành án kê biên để đảm bảo thi hành án theo quyết định, bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án.

Tại biên bản kê biên ngày 11-3-2016, có mặt vợ chồng ông H, bà N1, cụ N. Cụ N đồng ý cho kê biên diện tích 13,1 m2, do cụ đứng tên gi y đ t, trị giá 90.296.000 đồng cho cơ quan thi hành án, được hát mãi bán đ u giá, cụ đồng ý nhận lại giá trị khi bán (Bút lục 20) và cơ quan thi hành án đã thực hiện việc kê biên, bán đ u giá à nhà, đ t của ông H, bà N1, trong đó có diện tích 13,1 m2 bức tường chung của cụ N đồng ý cho bán. Quá trình thực hiện, cụ N à người trực tiếp nhận các thủ tục bán đ u giá nhà đ t cho ông H, bà N1 nhưng cụ không có ý kiến gì về việc kê biên, bán đ u giá. Đến ngày 17-8-2017, ông Đặng Khánh G mua được tài sản đ u giá. Sau khi ông G đã mua được tài sản thì ông H, bà N1 xin được chậm giao tài sản để được àm đám Đại tường cho con, hẹn giao nhà đ t ngày 15-11-2017. Đến hẹn, ông H, bà N1 lại không giao nhà, đ t, cụ N không nhận tiền giá trị đ t như đã đồng ý, ông H, bà N1 có yêu cầu chia đều tiền bán nhà đ t theo tỷ lệ cho các chủ nợ, cụ N thì yêu cầu trả lại đ t.

Xét th y khi xây nhà năm 2000, cụ N đồng ý xây bức tường sử dụng chung, khi kê biên tài sản bà không có ý kiến về việc kê biên, bán đ u giá tài sản để giá trị nhà, đ t của ông H, bà N1 không bị giảm, bà đồng ý nhận tiền giá trị đ t. Tài sản bán đ u giá đã có người mua, trả đủ tiền. Nên việc mua, bán đã thực hiện xong, chỉ còn giao tài sản cho người mua đ t và cụ N nhận lại giá trị đ t. Nay cụ yêu cầu ông H, bà N1 trả lại 13,1 m2 à không có căn cứ ch p nhận, yêu cầu của cụ N, ý kiến của ông H, bà N1 nhằm mục đích kéo dài việc giao tài sản cho ông G, người đã mua tài sản thông qua việc đ u giá đảm bảo thủ tục. C sơ thẩm áp dụng các điều luật xét xử không ch p nhận yêu cẩu khởi kiện của cụ N à có căn cứ. Cụ N kháng cáo nhưng không cung c được chứng cứ mới nên không ch p nhận, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Cụ Mai hị N được miễn án hí dân sự húc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Không ch p nhận kháng cáo của cụ Mai Thị N.

Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Căn cứ vào Điều 256, Điều 688 của Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 688 Bộ luật dân sự 2015;Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:

1. Không ch p nhận yêu cầu khởi kiện về việc “ ranh ch p iên quan đến tài sản bị cưỡng chế thi hành án” của cụ Mai Thị N đối với ông Trần Văn H và bà Huỳnh Thị N1.

2. Về án hí:

2.1. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Cụ Mai Thị N được miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho cụ N số tiền tạm ứng án hí đã nộ à 2.500.000 đồng theo biên lai thu số 0004926 ngày 18/12/2017 và 300.000 đồng theo biên lai thu số 0005301 ngày 04/4/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố TN.

Cụ Mai Thị N phải chịu 400.000 đồng chi phí tố tụng. Ghi nhận cụ N đã nộp xong.

2.2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Cụ Mai Thị N được miễn án phí dân sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ