vanban.org

Bản án 68/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Sơn La, tỉnh Sơn La Tuyên án 15/05/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hoàng Thanh S (tên gọi khác: Hoàng Văn M) phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Hoàng Thanh S (tên gọi khác: Hoàng Văn M): 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 25/12/2017). Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Thanh S tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 19…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hoàng Thanh S (tên gọi khác: Hoàng Văn M) phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 41 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SƠN LA
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2018/HS-ST
Ngày: 15-5-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Phan Thị Hoa

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Cà Văn Pản

2. Bà Bùi Thị Bưởi

- Thư ký phiên toà: Ông Đỗ Anh Tú – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La tham gia phiên toà: Ông Phạm Quốc Cảnh – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 66/2018/TLST-HS ngày 30 tháng 3 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2018/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 4 năm 2018 và Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2018/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo:

Hoàng Thanh S (tên gọi khác: Hoàng Văn M), sinh ngày 05 tháng 10 năm 1970 tại xã Hiệp An, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương; nơi ĐKNKTT: Bản P, xã Đ, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): 07/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Hoàng Văn L, sinh năm 1947 và bà Quàng Thị L, sinh năm 1945; có vợ là Nguyễn Thị N, sinh năm 1969 và 02 con (con lớ n sinh năm 1996, con nhỏ nhất sinh năm 2000); tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25 tháng 12 năm 2017 đến nay, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 15 giờ 45 phút ngày 25/12/2017 tại khu vực bản Nà Cọ, phường Chiềng Cơi, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La, Hoàng Thanh S (tên gọi khác: Hoàng Văn M) bị tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy Công an thành phố Sơn La phối hợp với Công an phường Chiềng Cơi, thành phố Sơn La phát hiện, bắt quả tang khi đang có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy.

Vật chứng thu giữ gồm: 02 gói nilon (01 gói màu hồng, 01 gói màu trắng) bên trong đều chứa chất cục, bột màu trắng (S tự giác lấy từ túi áo khoác bên phải đang mặc ra giao nộp, khai nhận là hêrôin tàng trữ để sử dụng).

Ngoài ra còn tạm giữ: 01 Chứng minh nhân dân số 050832633 mang tên Hoàng Thanh S, 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA FUTURE màu đen - đỏ, biển kiểm soát: 26B2 - 065.08.

Ngày 25 tháng 12 năm 2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Sơn La đã thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh và lấy mẫu giám định vật chứng, kết quả cân tịnh: Số cục, bột màu trắng trong gói nilon màu hồng thu giữ của Hoàng Thanh S có khối lượng là 0,2 gam; lấy 0,1 gam làm mẫu giám định, ký hiệu HS1, còn lại 0,1 gam lưu kho, ký hiệu HS2. Số cục, bột màu trắng trong gói nilon màu trắng thu giữ của Hoàng Thanh S có khối lượng là 0,13 gam; lấy toàn bộ 0,13 gam làm mẫu giám định, ký hiệu HS3. Tổng khối lượng chất cục, bột màu trắng thu giữ của Hoàng Thanh S là 0,33 gam.

Kết luận giám định số: 149/KLMT ngày 02 tháng 01 năm 2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La kết luận: "Mẫu gửi giám định ký hiệu HS1, HS3 là chất ma túy; Loại chất hêrôin; Trọng lượng (khối lượng) của mẫu gửi giám định là 0,23 gam. Tổng trọng lượng (khối lượng) chất ma túy thu giữ 0,33 gam; Loại chất hêrôin”. Mẫu giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.

Quá trình điều tra, Hoàng Thanh S (tên gọi khác: Hoàng Văn M) khai nhận hành vi phạm tội như sau:

Do nghiện chất ma túy nên khoảng 15 giờ 00 phút ngày 25/12/2017, S điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA FUTURE, biển kiểm soát: 26B2 - 065.08 từ nhà tại bản P, xã Đ, thành phố Sơn La đến khu vực bản Nà Cọ, phường Chiềng Cơi, thành phố Sơn La để tìm mua ma túy sử dụng. Tại đây, S gặp và hỏi mua của một nam giới tên Thiện được 02 gói hêrôin với giá 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng). S cầm 02 gói hêrôin cất vào túi áo khoác bên phải đang mặc, rồi đi tìm nơi để sử dụng ma túy. Khi S đi đến khu vực cổng bản Nà Cọ, phường Chiềng Cơi, thành phố Sơn La thì bi ̣ Cơ quan công an phát hiê ̣n bắt quả tang cùng toàn bộ vật chứng thu giữ.

Về nguồn gốc 0,33 gam hêrôin bị thu giữ: Bị cáo Hoàng Thanh S (tên gọi khác: Hoàng Văn M) khai mua của một người nam giớ i tên Thiện vào ngày 25/12/2017 tại khu vực bản Nà Cọ, phường Chiềng Cơi, thành phố Sơn La nhưng Sơn không biết họ tên, địa chỉ cụ thể của Thiện. Ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác chứng minh, do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Sơn La không có căn cứ điều tra mở rộng vụ án.

Do có hành vi nêu trên tại bản cáo trạng số: 12/CT-VKSTP ngày 29/3/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La đã truy tố bị cáo Hoàng Thanh S (tên gọi khác: Hoàng Văn M) về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo Hoàng Thanh S (tên gọi khác: Hoàng Văn M) đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Hoàng Thanh S (tên gọi khác: Hoàng Văn M) phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015:

Xử phạt bi ̣ cáo Hoàng Thanh S (tên gọi khác: Hoàng Văn M) từ 18 đến 24 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) Chiếc phong bì công văn của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La đã niêm phong, mặt trước ghi: “Vật chứng lưu kho vụ Hoàng Thanh S - Tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt ngày 25/12/2017 gồm: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở, 01 mảnh nilon màu trắng, 01 mảnh nilon màu hồng, mẫu lưu kho có ký hiệu HS 2 = 0,1 gam”, mặt sau có chữ ký và họ tên của thành phần tham gia niêm phong , kiểm tra niêm phong còn nguyên vẹn.

Trả lại cho bị cáo Hoàng Thanh S (tên gọi khác: Hoàng Văn M): 01 chứng minh nhân dân số 050832633 do Công an tỉnh Sơn La cấp ngày 12/10/2009 mang tên Hoàng Thanh S (Hoàng Văn M).

Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa , bị cáo Hoàng Thanh S (tên gọi khác: Hoàng Văn M) nhận tội và không có ý kiến tranh luận gì với vị đại diện Viện kiểm sát , đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhe ̣ hinh pha ̣t cho bị cáo.

̀

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Do nghiện chất ma túy, ngày 25/12/2017, Hoàng Thanh S (tên gọi khác: Hoàng Văn M) đã có hành vi cất giấu trái phép 0,33 gam hêrôin với mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang tại khu vực bản Nà Cọ, phường Chiềng Cơi, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.

Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, không bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án, bị cáo hoàn toàn nhất trí với hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ:

- Lời khai nhận tội của bị cáo;

- Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 16 giờ 00 phút ngày 25/12/2017 tại bản Nà Cọ, phường Chiềng Cơi, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La đối với Hoàng Thanh S (tên gọi khác: Hoàng Văn M) cùng vật chứng thu giữ là 01 gói nilon (01 gói màu hồng, 01 gói màu trắng) bên trong đều chứa chất cục, bột màu trắng, có trọng lượng 0,33 gam; Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản mở niêm phong kiểm tra vật chứng và niêm phong lại; Biên bản bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại; Kết luận giám định số: 149/KLMT ngày 02 tháng 01 năm 2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của ông Cà Văn A, sinh năm 1973, trú tại: Bản N, phường C, thành phố Sơn La , tỉnh Sơn La là người chứng kiến việc bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với kết quả điều tra.

Đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Hoàng Thanh S (tên gọi khác: Hoàng Văn M) phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999.

[2] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo Hoàng Thanh S (tên gọi khác: Hoàng Văn M) phạm tội với tổng trọng lượng 0,33 gam hêrôin, vi phạm tình tiết định khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999, khung hình phạt có mức hình phạt tù từ hai năm đến bảy năm và thuộc trường hợp nghiêm trọng.

Hội đồng xét xử thấy rằng: Tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương. Do đó, cần lên mức án tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm đảm bảo biện pháp cải tạo giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên khi áp dụng hình phạt cần cân nhắc về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999; bị cáo có bố đẻ là ông Hoàng Văn L là người có công với cách mạng, được Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhì, bị cáo bị bệnh nặng, bị nhiễm HIV nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Trong khi lượng hình, Hội đồng xét xử có xem xét áp dụng một số quy định có lợi cho người phạm tội theo quy định tại khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm h, i khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/20017 của Quốc hội khóa 14. Theo đó, khung hình phạt của tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định mức phạt tù từ 01 năm đến 05 năm, nhẹ hơn khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999. Đồng thời, tại thời điểm xét xử, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã có hiệu lực pháp luật. Do đó cần xem xét áp dụng khung hình phạt và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 theo hướng có lợi cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định, sống phụ thuộc vào gia đình, không có tài sản riêng có giá trị, xét việc áp dụng hình phạt bổ sung không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ: Bị cáo Hoàng Thanh S (tên gọi khác: Hoàng Văn M) khai mua của một người nam giớ i tên Thiện nhưng bị cáo không biết họ tên, đi ̣a chi cụ thể vào ngày 25/12/2017 tại khu vực bản Nà Cọ,̉ phường Chiềng Cơi, thành phố Sơn La , tỉnh Sơn La . Ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác chứng minh. Do đó, buộc bị cáo Hoàng Thanh S (tên gọi khác: Hoàng Văn M) phải chịu trách nhiệm về toàn bộ số ma túy bị thu giữ.

Vật chứng vụ án:

Đối với 0,1 gam hêrôin còn lại trong vụ án sau khi lấy mẫu gửi giám định là chất ma túy, thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy cùng 01 (một) vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở, 01 mảnh nilon màu trắng, 01 mảnh nilon màu hồng là vật không còn giá trị sử dụng.

Đối với 01 chứng minh nhân dân số 050832633 do Công an tỉnh Sơn La cấp ngày 12/10/2009 mang tên mang tên Hoàng Thanh S (Hoàng Văn M). Quá trình điều tra xác định là giấy tờ cá nhân của bị cáo mang theo khi phạm tội, không liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho bị cáo.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA FUTURE màu đen - đỏ, biển kiểm soát: 26B2 - 065.08, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của chị Hoàng Thị Lệ X (sinh năm 1972, trú tại bản P, xã Đ, thành phố Sơn La) cho bị cáo mượn vào ngày 25/12/2017, khi cho mượn chị Xuân không biết Sơn sử dụng chiếc xe để thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, ngày 01/02/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Sơn La đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại chiếc xe mô tô trên cho chị Hoàng Thị Lệ X quản lý, sử dụng là có căn cứ.

Về án phí: Do hành vi phạm tội của bị cáo nên buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm h, i khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017; khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 249, điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015:

Tuyên bố bị cáo Hoàng Thanh S (tên gọi khác: Hoàng Văn M) phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Hoàng Thanh S (tên gọi khác: Hoàng Văn M): 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 25/12/2017).

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 41 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) Chiếc phong bì công văn của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La đã niêm phong, mặt trước ghi: “Vật chứng lưu kho vụ Hoàng Thanh S - Tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt ngày 25/12/2017 gồm: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở, 01 mảnh nilon màu trắng, 01 mảnh nilon màu hồng, mẫu lưu kho có ký hiệu HS2 = 0,1 gam”, mặt sau có chữ ký và họ tên của thành phần tham gia niêm phong , kiểm tra niêm phong còn nguyên vẹn.

Trả lại cho bị cáo Hoàng Thanh S (tên gọi khác: Hoàng Văn M): 01 chứng minh nhân dân số 050832633 do Công an tỉnh Sơn La cấp ngày 12/10/2009 mang tên Hoàng Thanh S (Hoàng Văn M).

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/4/2018 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Sơn La và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La).

Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và khoản 1 điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14: Buộc bị cáo Hoàng Thanh S (tên gọi khác: Hoàng Văn M) phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 15/5/2018)./.

Cỡ chữ