- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà L xin ly hôn với ông H, không đăng ký kết hôn"
- Tòa quyết gì? 3 Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỊNH BIÊN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 68/2018/HNGĐ-ST Ngày: 30-10-2018 V/v tranh chấp xin ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỊNH BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Mỹ.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Thanh Hoàng;
Bà Nguyễn Thị Minh Chuyên.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Quới - thư ký Tòa án nhân dân huyện
Tịnh Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tịnh Biên tham gia phiên
tòa: Bà Neàng Sa Men– Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 10 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên
xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 164/2018/TLST-HNGĐ ngày 18
tháng 6 năm 2018 về việc "Xin ly hôn" theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
65/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 9 năm 2018, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trịnh Thị L, sinh năm 1977, nơi cư trú: tổ 6, khóm T,
thị trấn N, huyện T, tỉnh A, có mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Long H, sinh năm 1977, nơi cư trú: tổ 6, khóm T,
thị trấn N, huyện T, tỉnh A, tỉnh An Giang, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện lại ngày 05 tháng 6 năm 2018 và các lời khai tại Tòa
án, cũng như tại phiên tòa nguyên đơn bà Trịnh Thị L trình bày:
Về hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Long H chung sống với nhau từ năm
1996, chưa đăng ký kết hôn. Lúc đầu cuộc sống hôn nhân hạnh phúc, về sau xảy
ra mâu thuẫn, do tính tình không hợp nhau. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm
2011, bà L yêu cầu được ly hôn với ông H.
Về con chung: Có hai con chung tên Nguyễn Thị Kim N, sinh ngày 20
tháng 02 năm 1998, đã trưởng thành và Nguyễn Đại P, sinh ngày 09 tháng 3 năm 2011. Bà L yêu cầu được quyền nuôi dưỡng hai con chung và không yêu cầu ông H cấp dưỡng.
Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: không có.
- Đối với ông Nguyễn Long H đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng
thông qua việc niêm yết công khai về: thông báo thụ lý vụ án; thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn ông H vắng mặt, nên Tòa án tiến hành lập biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và lập biên bản không tiến hành hòa giải được.
Ngày 12 tháng 10 năm 2018 Tòa án mở phiên tòa xét xử và đã triệu tập
hợp lệ các đương sự nhưng chỉ có mặt nguyên đơn, bị đơn vắng mặt không có lý do nên Tòa án hoãn phiên tòa lần thứ nhất.
* Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu về việc tuân thủ pháp
luật của thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đảm bảo đúng theo qui định của pháp luật. Việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng thực hiện đúng theo qui định tại các điều 70,71,72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về hôn nhân: Giữa bà L và ông H chung sống với nhau như vợ chồng từ
năm 1996, nhưng chưa đăng ký kết hôn. Theo ý kiến của bà L thì bà và ông H đã không còn sống chung từ năm 2011, nguyên nhân ông H đã sinh sống như vợ chồng với người phụ nữ khác. Do đó, bà L yêu cầu được ly hôn vơi ông H. Tuy nhiên theo quy định khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, bà L và ông H không đăng ký kết hôn, nên không đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, mà cần tuyên bố không công nhận bà L và ông H là vợ chồng.
Về con chung: Nguyễn Thị Kim N, sinh ngày 20 tháng 02 năm 1998, đã
trưởng thành đã trưởng thành, nên không giải quyết. Còn đối với cháu Trần Đại P, sinh ngày 09 tháng 3 năm 2011, thấy rằng sau khi bà L và ông H không còn chung sống với nhau con chung do bà L nuôi dưỡng và cháu P có nguyện vọng được sống với mẹ, cần tiếp tục giao con chung cho bà L nuôi dưỡng.
Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng theo quy định phát luật.
Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu và bị đơn
vắng mặt;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả
tranh luận tại phiên tòa, quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
- Bị đơn ông Nguyễn Long H đã được Tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên
triệu tập hợp lệ có mặt tại phiên tòa lần thứ hai, nhưng vắng mặt. Hội đồng xét
xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vẫn
tiến hành xét xử vụ án.
- Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn ông Nguyễn Long H có đăng ký hộ
khẩu thường trú tại khóm T, thị trấn T, huyện T, tỉnh A. Tòa án nhân dân huyện
Tịnh Biên thụ lý, giải quyết là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a
khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án:
- Về hôn nhân: Bà Trịnh Thị L và ông Nguyễn Long H chung sống với
nhau như vợ chồng từ năm 1996, nhưng không đăng ký kết hôn, theo quy định
tại khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, thì “Nam, nữ có điều
kiện kết hôn theo quy định của pháp luật chung sống với nhau như vợ chồng mà
không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và
chồng, nếu có yêu cầu ly hôn thì Tòa án tuyên bố không công nhận quan hệ vợ
chồng”. Từ đó, không có cơ sở giải quyết ly hôn theo yêu cầu của nguyên đơn,
mà cần tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng của bà Trịnh Thị L và ông
Nguyễn Long H theo quy định khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình
2014.
- Về con chung: Nguyễn Thị Kim N, sinh ngày 20 tháng 02 năm 1998 (đã
trưởng thành), nên không xem xét giải quyết. Đối với cháu Trần Đại P, sinh
ngày 09 tháng 3 năm 2011, từ sau khi bà L và ông H không còn sống chung thì
con chung do bà L nuôi dưỡng. Bà L yêu cầu được quyền nuôi con chung và
cháu P có nguyện vọng được sống với mẹ, để đảm bảo điều kiện sinh hoạt và
học tập của cháu. Hội đồng xét xử thấy rằng, cần tiếp tục giao con chung cho bà
L nuôi dưỡng, về cấp dưỡng bà L không yêu cầu, nên không xem xét.
- Về tài sản chung: không yêu cầu toà án giải quyết.
- Về nợ chung: không có.
Do đó, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị Hội đồng
xét xử không công nhận bà Trịnh Thị L và ông Nguyễn Long H là vợ chồng là
có cơ sở.
Về án phí: Bà Trịnh Thị L khởi kiện xin ly hôn nên phải chịu án phí
dân sự hôn nhân sơ thẩm theo mức không giá ngạch. Ông Nguyễn Long H
không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân gia đình 2014; khoản 4 Điều 147; Khoản
3 Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Trịnh Thị L với ông Nguyễn
Long H.
1. Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận bà Trịnh Thị L và ông
Nguyễn Long H là vợ chồng.
2. Về nuôi con chung:
2.1. Giao con chung Trần Đại P, sinh ngày 09 tháng 3 năm 2011 cho bà
Trịnh Thị L trực tiếp nuôi dưỡng.
2.2. Ông Nguyễn Long H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Bà Trịnh Thị L cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông
Nguyễn Long H thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con chưa thành niên, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá
nhân tổ chức có thẩm quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người người nuôi con.
- Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: không có.
2. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Trịnh Thị L phải chịu
300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số: TU/2016/0004246 ngày 18 tháng 6 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tịnh Biên, bà L đã nộp xong.
3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn
15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2
luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7
luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện theo qui định tại Điều
30 luật thi hành dân sự.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Các đương sư; - VKSND h.Tịnh Biên; - Chi cục THADS h.TB; - Tòa án nhân dân tỉnh; - Lưu HS & VP. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Võ Thị Ngọc Mỹ |