vanban.org

Bản án 68/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận đơn khởi kiện về việc “Ly hôn” của chị Phạm Thị Thanh T đối với anh Trần Thái H. Xử cho chị Phạm Thị Thanh T được ly hôn với anh Trần Thái H. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 174 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2018/HNGĐ - ST
Ngày: 26-7-2018
V/v: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Lâm

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phan Thị Hiếu

Ông Hoài Đức Huệ

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Lương Thị Liên – Là Thư ký Toà án nhân dân huyện N, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Trương Kim Quyết – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 206/2018/TLST-HNGĐ ngày 04/4/2018 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 33/2018/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 7 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Thanh T, sinh năm 1985

- Bị đơn: Anh Trần Thái H, sinh năm 1978

Cùng địa chỉ: tổ 6, ấp S, xã V, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

(Chị Tvà anh H vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 28/3/2018 và các lời khai tại hồ sơ, nguyên đơn chị Phạm Thị Thanh T trình bày: Chị và anh Trần Thái H xây dựng gia đình với nhau năm 2008, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã V, huyện N cấp giấy chứng nhận kết hôn số 74 ngày 16 tháng 4 năm 2008. Việc kết hôn do chị và anh Hòa đều tự nguyện. Nay chị khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Thái H. Nguyên nhân chị T yêu cầu ly hôn là do vợ chồng chung sống không hạnh phúc, anh H không chăm lo hạnh phúc gia đình và vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2015 cho đến nay.

Về con chung: Chị T và anh H có 02 người con chung là cháu Trần Phạm Minh D, sinh ngày 17/3/2009 và Trần Phạm Duy B, sinh ngày 01/01/2015. Nếu ly hôn, chị T yêu cầu được nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị T khai không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với anh Trần Thái H đã án triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa tham gia tố tụng và cung cấp chứng cứ nên không có lời khai.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch:

+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn là đúng quy định của pháp luật. Bị đơn anh H không thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

+ Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T; giao 02 con chung cho chị T nuôi dưỡng, tạm thời anh Hòa không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không có yêu cầu nên không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Nguyên đơn chị Phạm Thị Thanh T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Trần Thái H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh H vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, áp dụng Điều 277 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị Phạm Thị Thanh T và anh Trần Thái H.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Thái H và chị Phạm Thị Thanh T xây dựng gia đình với nhau năm 2008 có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã V, huyện N cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 16/4/2008, việc kết hôn do cả hai đều tự nguyện nên được xem là hôn nhân hợp pháp theo Điều 11 Luật hôn nhân gia đình năm 2000. Chị T xin ly hôn với anh H với lý do vợ chồng chung sống không hạnh phúc, thường hay xảy ra mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống và đã sống ly thân từ năm 2015 đến nay.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thông báo cho anh H biết để đến Tòa tham gia tố tụng, cung cấp chứng cứ và hòa giải để vợ chồng đoàn tụ nhưng anh H vẫn không đến Tòa mà không có lý do. Xét thấy, anh Hkhông quan tâm chăm sóc gia đình, vợ chồng không cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình và đã sống ly thân từ năm 2015 nên có cở sở xác định anh H và chị T đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T, xử cho chị T được ly hôn với anh H là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về nuôi con chung: Anh H và chị T có 02 người con chung là cháu Trần Phạm Minh D, sinh ngày 17/3/2009 và Trần Phạm Duy B, sinh ngày 01/01/2015. Xét thấy, hiện nay cháu D và cháu B do chị T là người trực tiếp nuôi dưỡng và anh H cũng không có ý kiến yêu cầu hay tranh chấp gì về việc nuôi con chung. Do đó, Hội đồng xét xử giao 02 người con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với các Điều 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình. Chị T nuôi con không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con nên không xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Phạm Thị Thanh T phải chịu 300.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 174, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 11 Luật hôn nhân gia đình năm 2000; Điều 56, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận đơn khởi kiện về việc “Ly hôn” của chị Phạm Thị Thanh T đối với anh Trần Thái H.

Xử cho chị Phạm Thị Thanh T được ly hôn với anh Trần Thái H.

Về nuôi con chung: Giao 02 con chung là cháu Trần Phạm Minh D, sinh ngày 17/3/2009 và Trần Phạm Duy B, sinh ngày 01/01/2015 cho chị Phạm Thị Thanh Tnuôi dưỡng. Tạm thời anh H không cấp dưỡng nuôi con.

Anh H được quyền đến thăm nom con không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.

2. Về án phí: Chị Phạm Thị Thanh T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân và gia đình nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 003534 ngày 04 tháng 4 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện N. Chị T đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

3. Chị T và anh H được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ