vanban.org

Bản án 68/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1- Chị Đoàn Thị X được ly hôn anh Bùi Đức S;

2- Về con chung: Giao cho chị Đoàn Thị X được nuôi con Bùi H Huy, sinh ngày 26 tháng 5 năm 2003 đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Tạm Hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Bùi Đức S. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thă… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đoàn Thị X - Bùi Đức S"
  • Tòa quyết gì? 1- Chị Đoàn Thị X được ly hôn anh Bùi Đức S;
  • Căn cứ chính? Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN LÃO
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2018/HNGĐ-ST
Ngày 12-11-2018
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN LÃO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đinh Duy Việt.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đàm Công Du

Ông Nguyễn Đình Xuyên

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Tuấn Anh là Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão, thành phố tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở toà án nhân dân huyện An Lão tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 154/2018/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 7 năm 2018, về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1507/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 10 năm 2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đoàn Thị X; trú tại: Thôn K, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng, có mặt tại phiên toà.

- Bị đơn: Anh Bùi Đức S; trú tại: Thôn K, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng, vắng mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 03 tháng 7 năm 2018 và các lời khai tại Tòa án nhân dân huyện An Lão chị Đoàn Thị X trình bày:

1.Về quan hệ hôn nhân: Chị X và anh Bùi Đức S kết hôn với nhau năm vào 1993, trên cơ sở được tìm hiểu tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã An Tiến, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng ngày 04 tháng 8 năm 1993. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại thôn K, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh S không chịu khó làm ăn, hay rượu chè, không tin tưởng chị X về tình cảm, công việc, vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau, anh S nhiều lần chửi, đánh đập chị X, mâu thuẫn của vợ chồng đã được gia đình, địa phương nhiều lần hòa giải, khuyên nhủ, nhưng không có kết quả, chị Hà đã thuê nhà ở trọ từ tháng 4 năm 2018, vợ chồng sống ly thân nhau không ai quan tâm đến ai. Nay chị X thấy tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng không có khả năng hàn gắn, đoàn tụ, nên đề nghị Tòa án nhân dân huyện An Lão giải quyết cho chị X được ly hôn anh Bùi Đức S.

2. Về con chung: Chị Đoàn Thị X và anh Bùi Đức S có 02 con chung là Bùi Đức L, sinh năm 1993; Bùi Huy H, sinh ngày 26 tháng 5 năm 2003; ly hôn do con Bùi Đức L đã trưởng thành có gia đình riêng chị X không yêu cầu giải quyết việc nuôi dưỡng, đối với con Bùi Huy H chị X đề nghị được nuôi dưỡng, không yêu cầu anh S phải cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về tài sản chung, công nợ và các vấn đề khác: Chị X trình bày chị và anh S tự thỏa thuận, không yêu cầu toà án giải quyết.

Anh Bùi Đức S đã được Tòa án triệu tập nhiều lần đến Tòa để giải quyết vụ án theo yêu cầu của chị X nhưng đều vắng mặt không có lý do, không trình bày ý kiến, đề nghị của mình đối với yêu cầu xin ly hôn của chị X.

Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn là chị Đoàn Thị X có đơn khởi kiện về việc ly hôn và tranh chấp nuôi con, anh Bùi Đức S là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn đã cơ bản thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật, bị đơn không đến tòa theo giấy triệu tập của tòa án là chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án, diễn biến tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn đề nghị giải quyết chị Đoàn Thị X được ly hôn anh Bùi Đức S, giao cho chị X được nuôi con chung Bùi H Huy, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh S, chị X phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

- Về tố tụng:

Về thẩm quyền: Đây là vụ án về việc ly hôn và tranh chấp nuôi con, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì thẩm quyền giải quyết tranh chấp thuộc Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng.

Về việc vắng mặt của bị đơn anh Bùi Đức S: Anh Bùi Đức S vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 02 không có lý do, nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Bùi Đức S.

- Về yêu cầu của nguyên đơn chị Đoàn Thị X:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đoàn Thị X kết hôn với anh Bùi Đức S, trên cơ sở được tìm hiểu tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 04 tháng 8 năm 1993, tại Ủy ban nhân dân xã An Tiến, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng, căn cứ vào khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình, đây xác định là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống trên cơ sở lời khai đương sự, biên bản xác minh của Tòa án thấy: Trong thời gian chung sống chị X và anh S đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh S không chịu khó làm ăn, hay rượu chè, nghi ngờ chị X về tình cảm, kinh tế, công việc, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, mỗi lần cãi nhau anh S lại đánh, chửi chị X gây ảnh hưởng đến sức khỏe, tinh thần của chị X, dẫn đến tình trạng cuộc sống chung của vợ chồng luôn nặng nề, căng thẳng, mâu thuẫn kéo dài, mặc dù gia đình, chính quyền địa phương khuyên bảo, hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả, tháng 4 năm 2018 chị X ra thuê nhà ở riêng, vợ chồng ly thân nhau. Căn cứ vào khoản 1, 2 Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình, xác định mâu thuẫn của chị X, anh S đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc chị X xin ly hôn anh S là có căn cứ, phù hợp Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của chị X được ly hôn anh S.

Về con chung: Chị X và anh Bùi Đức S có 02 con chung là Bùi Đức L, sinh năm 1993; Bùi Huy H, sinh ngày 26 tháng 5 năm 2003; cháu Bùi Đức L đã trưởng thành có gia đình riêng nên việc nuôi dưỡng không đặt ra; cháu Bùi Huy H đã trên 07 tuổi có nguyện vọng được ở với chị X, chị X có nghề nghiệp ổn định có thu nhập khoảng 5.000.000đ (năm triệu đồng) trên tháng, đảm bảo được việc nuôi con, anh S không có ý kiến và đề nghị nuôi con. Nên căn cứ vào Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, giao cho chị X được nuôi dưỡng con Bùi Huy H theo đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp. Về cấp dưỡng nuôi con chị X không yêu cầu, nên tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh S.

Về tài sản chung, công nợ và các vấn đề khác: Các đương sự không yêu cầu, Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí: Chị X phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào quy định tại các điều 19, 51, 53, 56, 57 và các điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1- Chị Đoàn Thị X được ly hôn anh Bùi Đức S;

2- Về con chung: Giao cho chị Đoàn Thị X được nuôi con Bùi H Huy, sinh ngày 26 tháng 5 năm 2003 đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Tạm Hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Bùi Đức S.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không được ai cản trở.

3. Về án phí: Chị Đoàn Thị X phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0016809 ngày 04 tháng 7 năm 2018, của Chi cục Thi hành án huyện An Lão, chị X đã nộp đủ án phí.

Về quyền kháng cáo bản án:

Chị Đoàn Thị X có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh Bùi Đức S có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Cỡ chữ