vanban.org

Bản án 68/2018/DS-PT — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng

TAND tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 19/04/2018 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 19/04/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ khoản 1, 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn - Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 125/2017/DS-ST ngày 15/12/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk. [2] Áp dụng khoản 6 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân s… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Ông Phan Văn B khởi kiện anh Lê Tiến Đ"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ khoản 1, 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật tố tụng dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2018/DS-PT
Ngày 19 - 4 - 2018
V/v yêu cầu bồi thường thiệt
hại do sức khỏe bị xâm phạm.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Y Phi Kbuôr

Các Thẩm phán:

Bà Nguyễn Thị Hằng

Ông Trương Công Bình

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Nam - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk: Ông Phan Văn Hoàn - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 19 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 12/2018/TLPT-DS ngày 05/02/2018, về việc “Yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 125/2017/DS-ST ngày 15/12/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 59/2018/QĐ-PT ngày 27 tháng 3 năm 2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Phan Văn B.

Người đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim T (Vợ ông B)

Cùng trú tại: Xã Hòa K, Tp. BMT, tỉnh Đắk Lắk; đều có mặt.

- Bị đơn: Anh Lê Tiến Đ; trú tại: Xã Hòa K, Tp. BMT, tỉnh Đắk Lắk; có mặt.

- Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Phan Văn B; bị đơn anh Lê Tiến Đ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng đại diện theo ủy

quyền của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim T trình bày:

Vào chiều ngày 23/02/2014, chồng tôi là ông Phan Văn B điều khiển xe mô tô mang biển số 47B1 - 157.26 đi từ xã Hòa K về nhà tại xã Hòa K, khi đi tới đoạn đường đầu xã Hòa K thì bị Lê Tiến Đ điều khiển xe chạy ngược chiều lao sang phía đường của chồng tôi và đâm vào phần giữa xe bên trái của chồng tôi, làm chồng tôi bị thương nặng được người dân đưa đi cấp cứu. Sau khi vụ tai nạn xảy ra, tôi đã nhiều lần đề nghị cơ quan Công an và Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột giám định thương tích cho chồng tôi để khởi tố vụ án. Trong quá trình chồng tôi điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Đắk Lắk thì ngày 27/02/2014, gia đình anh Đ tự ý làm thủ tục cho chồng tôi xuất viện mà không báo lại cho gia đình tôi biết, khi về nhà chồng tôi vẫn bị đau, sức khỏe chưa phục hồi được nên vào ngày 05/3/2014 gia đình tôi tiếp tục đưa chồng tôi lên lại Bệnh viện đa khoa tỉnh Đắk Lắk nhưng bệnh viện không đồng ý cho nhập viện, nên chúng tôi đến điều trị tại Bệnh viện đa khoa Thiện H.

Khi điều trị tại bệnh viện tỉnh Đắk Lắk kết luận chồng tôi bị chấn thương sọ não/nứt sọ thái dương (kết quả giám định tỷ lệ thương tích là 21%), nhưng trên thực tế chồng tôi còn bị thương ở chân trái. Sau khi gia đình khiếu nại đến bệnh viện đa khoa tỉnh Đắk Lắk về kết quả khám chữa bệnh, chẩn đoán bệnh thì ngày 09/02/2015, Bệnh viện đa khoa tỉnh Đắk Lắk có Công văn số 117/BVT-KHTH về việc xác định lại thương tích cho chồng tôi là chấn thương sọ não/nứt sọ thái dương phải, đứt dây chằng chéo trước và dây chằng chéo sau của chân trái với kết luận giám định là 36%. Việc thương tích của chồng tôi do vụ tai nạn đã làm ảnh hưởng rất nhiều đến sức khỏe và khả năng lao động của chồng tôi.

Vì vậy, gia đình tôi đề nghị Tòa án giải quyết buộc Lê Tiến Đ phải bồi thường thiệt hại cho chồng tôi số tiền 132.903.629 đồng, các khoản cụ thể:

- Chi phí điều trị tại các bệnh viện là 12.653.609 đồng. (Có các hóa đơn chứng từ kèm theo);

- Tiền thuê xe đi nhập viện, xuất viện, tái khám 3.000.000 đồng;

- Tiền bồi dưỡng phục hồi sức khỏe và tổn thất tinh thần (tính từ ngày bị tai nạn 23/02/2014 đến ngày 23/3/2016): 25 tháng x 1.210.000 đồng = 30.250.000 đồng;

- Thu nhập thực tế bị mất trong thời gian điều trị tại các bệnh viện và điều trị ngoại trú tại nhà của ông Bình là 45 ngày: 45 ngày x 150.000 đồng/ngày = 6.750.000 đồng;

- Thu nhập thực tế bị giảm sút do sức khỏe giảm sút từ ngày 23/02/2014 đến ngày 11/9/2017 của ông B: 43 tháng x 30 x 50.000 đồng = 64.500.000 đồng;

- Thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc trong thời gian điều trị tại bệnh viện và tái khám: 15 ngày x 150.000 đồng/ngày = 2.250.000 đồng;

- Thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc khi ông B điều trị ngoại trú từ ngày 27/2/2014: 6 tháng x 30 x 75.000 đồng/ngày = 13.500.000 đồng.

* Bị đơn anh Lê Tiến Đ trình bày:

Vào khoảng 19h30 ngày 23/02/2014, tôi điều khiển xe máy biển số 72T2 - 6648 đi trên tỉnh lộ 2 hướng từ Buôn T ra ngã ba Duy H. Khi đi qua đoạn đường bị hư hỏng 2/3 đường phía bên tay phải theo hướng đi, nên tôi đã điều khiển xe máy sang phía bên trái làn đường để tránh đường xấu thì phát hiện một chiếc xe máy đi ngược chiều đang chạy tới, không có đèn. Vì quá đột ngột nên tôi đã không tránh được và va chạm với chiếc xe máy đi ngược chiều gây tai nạn, tôi bị ngất tại chỗ được người dân đưa vào nhà sơ cứu. Sau khi tỉnh dậy tôi nghe tin bác Phan Văn B người đi xe ngược chiều không có đèn đã được đưa đi bệnh viện cấp cứu, tôi cùng gia đình đã đến thăm hỏi và làm thủ tục nhập viện cho ông B.

Kết quả bác sĩ cho biết bác B bị chấn thương sọ não 21% trong tình trạng trong máu có nồng độ cồn. Tôi và gia đình đã chi trả toàn bộ chi phí tiền viện phí cụ thể:

- Tiền viện phí: 1.786.024 đồng (Có trong bảng thanh toán ra viện ngày 27/2/2014 mà bác T vợ bác B đang giữ);

- Tiền sửa chữa xe cho bác B: 2.380.000 đồng (Có giấy xác nhận của bác T viết);

- Tiền thuốc điều trị tại nhà sau khi bác B ra viện ngày 27/2/2014: 1.000.000 đồng (Do ngày lấy thuốc bệnh viện hết biên lai nên tôi không cung cấp được),

Nguyên nhân xảy ra tai nạn là do lỗi của hai bên nhưng gia đình bác B đưa thông tin sai lệch mà cho rằng lỗi hoàn toàn do tôi là không đúng. Vì vậy, tôi không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bác Phan Văn B.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 125/2017/DS-ST ngày 15/12/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:

Áp dụng khoản 6 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 604; Điều 605; Điều 609 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 26 nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH, ngày 30/12/2017của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: - Chấp nhận một phần đơn khởi kiện của ông Phan Văn B.

Buộc anh Lê Tiến Đ phải bồi thường cho ông Phan Văn B số tiền 43.005.477 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

- Bác một phần yêu cầu khởi kiện của ông Phan Văn B yêu cầu anh Lê Tiến Đ bồi thường số tiền 85.730.128 đồng.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 25/12/2017, bị đơn anh Lê Tiến Đ kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm với nội dung:

- Yêu cầu xác định lỗi vi phạm khi tham gia giao thông của ông B;

- Làm rõ giá trị pháp lý của các văn bản: Hồ sơ bệnh án số201408596; văn bản số 117/BVT-KHTH ngày 09/02/2015; tổng kết hồ sơ bệnh án sô 841/BVT-KHTK ngày 29/01/2015 của Bệnh viện đa khoa tỉnh Đắk Lắk; bản kết luận pháp y thương tích số 334/PY-TgT ngày 31/3/2014; bản kết luận pháp y bổ sung số 550/PY-TgT ngày 03/6/2014; công văn số 75/SYT-TTr ngày 12/5/2015 của Sở y tế tỉnh Đắk Lắk;

- Làm rõ thương tật đứt dây chằng của ông B và buộc bồi thường khoản tiền tổn thất tinh thần cho ông B là không đúng.

- Yêu cầu xác định thời hiệu khởi kiện đối với vụ án.

- Ngày 28/12/2017, ông Phan Văn B có đơn kháng cáo tòan bộ nội dung bản án, cụ thể là tăng mức bồi thường và xét xử cho khách quan.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Các đương sự trong vụ án và Hội đồng xét xử phúc thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự - Chấp nhận một phần đơn kháng cáo của nguyên đơn và không chấp nhận đơn kháng cáo của bị đơn, sửa bản án dân sự sơ thẩm số 125/2017/DS-ST ngày 15/12/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk theo hướng: Buộc anh Lê Tiến Đ phải bồi thường tiền bồi dưỡng sức khỏe cho ông Phan Văn B 4.250.000 đồng và bồi thường thêm khoản tiền thu nhập bị mất cho ông B sau khi ra viện là 6.750.000 đồng.

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ các tài liệu chứng cứ, lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy: Vào ngày 23/2/2014 anh Lê Tiến Đ điều khiển xe mô tô biển số 72T2-6648 đi không đúng phần đường quy định, va chạm với xe mô tô biển số 47B1-15726 do ông Phan Văn B điều khiển đi ngược chiều làm hai xe ngã xuống đường, tai nạn xảy ra lỗi hoàn toàn thuộc về anh Đ, hậu quả ông B bị thương tích 36% sức khỏe.

Tại Quyết định không khởi tố vụ án hình sự số 142 ngày 25/9/2014 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Tp. Buôn Ma Thuột cũng xác định vụ án vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ xảy ra ngày 23/02/2014 tại trước trụ điện số 50 đường tỉnh lộ 2, xã Hòa K, Tp. BMT là do anh Lê Tiến Đ điều khiển xe mô tô biển số 72T2-6648 gây ra tai nạn cho ông Phan Văn B bị thương tích 21% nên chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự đối với anh Lê Tiến Đ.

Ngày 09/02/2015, Bệnh viện đa khoa tỉnh Đắk Lắk có văn bản số 117/BVT-KHTH và Tổng kết hồ sơ bệnh án số 841/BVT-KHTH ngày 20/10/2014, chẩn đoán khi ông B ra viện là chấn thương sọ não/nứt sọ thái dương (P)/ đứt dây chằng chéo trước và dây chằng chéo sau gối (T). Ngày 31/3/2014, Trung tâm pháp y có Bản kết luận pháp y thương tích số 334/PY-TgT kết luận ông B bị đa thương, tổn thương xương vòm sọ và dây chằng chéo sau, trước với tỉ lệ thương tích 36% và ngày 03/6/2014, Trung tâm pháp y có Bản kết luận pháp y bổ sung số 550/PY-TgT cũng kết luận ông B bị chấn thương sọ não, nứt sọ là 21%; chấn thương gối trái, tổn thương sụn chèn và dây chằng chéo trước sau là 15%, tổng cộng là 36% là do tai nạn giao thông, bởi hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ do anh Đ gây ra. Do đó, ông B khởi kiện yêu cầu anh Đ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại là có căn cứ, đúng pháp luật. Cho nên không chấp nhận kháng cáo của anh Đ cho rằng, trong vụ tai nạn giao thông ông B cũng có lỗi là không đúng.

Xét kháng cáo của anh Đ về việc yêu cầu làm rõ giá trị pháp lý của các văn bản: Hồ sơ bệnh án số 201408596; văn bản số 117/BVT-KHTH ngày 09/02/2015; tổng kết hồ sơ bệnh án số 841/BVT-KHTK ngày 29/01/2015, của bệnh viện đa khoa tỉnh Đắk Lắk; bản kết luận pháp y thương tích số 334/PY-TgT ngày 31/3/2014; bản kết luận pháp y bổ sung số 550/PY-TgT ngày 03/6/2014; công văn số 75/SYT-TTr ngày 12/5/2015 của Sở y tế tỉnh Đắk Lắk; yêu cầu làm rõ thương tật đứt dây chằng của ông B, thì thấy: Đây là các văn bản của các cơ quan chuyên môn có thẩm quyền ban hành, sau khi có quyết định không khởi tố vụ án của Cơ quan cảnh sát điều tra thành phố Buôn Ma Thuột xác định lỗi hoàn toàn thuộc về anh Đ; bản tổng kết hồ sơ bệnh án số 841/BVT-KHTH ngày 20/10/2014, công văn số 75/SYT-TTr ngày 12/5/2015 của Sở y tế tỉnh Đắk Lắk chuẩn đoán khi ông B ra viện là chấn thương sọ não/nứt sọ thái dương (P)/ đứt dây chằng chéo trước và dây chằng chéo sau gối (T); bản kết luận pháp y thương tích số 334/PY-TgT ngày 31/3/2014 và bản kết luận pháp y bổ sung số 550/PY-TgT ngày 03/6/2014 kết luận ông B bị thương tích 36%. Nhưng sau khi có các văn bản nêu trên anh Đ không có khiếu nại nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét và chấp nhận kháng cáo của anh Đ.

Đối với kháng cáo yêu cầu xác định thời hiệu khởi kiện vụ án thì thấy: Theo quy định tại Điều 607 của Bộ luật dân sự năm 2005 thì thời hiệu khởi kiện là hai năm kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm. Nhưng do ông B không đồng ý với quyết định không khởi tố vụ án nên đã nhiều lần khiếu nại đến các cơ quan tiến hành tố tụng và Bệnh viện đa khoa tỉnh Đắk Lắk về kết luận giám định thương tích của ông B. Ngày 12/5/2015, Sở y tế tỉnh Đắk Lắk có công văn số 75/SYT-TTr về việc trả lời kết luận hồ sơ bệnh án liên quan đến vụ tai nạn giao thông đường bộ, đồng thời đến ngày 06/11/2015 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột đã triệu tập ông B và anh Đ đến làm việc để hòa giải (Bút lục 153) về vấn đề bồi thường nên thời hiệu được tính lại từ ngày 06/11/2015. Do vậy, đến ngày 06/3/2017, ông B khởi kiện là chưa hết thời hiệu khởi kiện theo quy định của pháp luật.

Mặt khác, theo quy định tại khoản 2 Điều 609 của Bộ luật dân sự năm 2005 anh Đ phải bồi thường cho ông B một khoản tiền để bù đắp về tổn thất tinh thần là đúng pháp luật. Nên kháng cáo của anh Đ là không có cơ sở để chấp nhận.

Xét kháng cáo của ông B thì thấy: Theo bản án sơ thẩm nhận định chấp nhận các yêu cầu của nguyên đơn cụ thể các khoản sau: Viện phí, lệ phí khám bệnh, tiền thuốc (có hóa đơn chứng từ): 11.391.501 đồng; Chi phí sửa xe: 2.382.000 đồng; Thu nhập bị mất khi nằm điều trị của ông Phan Văn B: 11 ngày x 200.000 đồng/ngày/người = 2.200.000 đồng; công người chăm sóc: 11 ngày x 200.000 đồng/ngày/người = 2.200.000 đồng; tổn thất tinh thần: 1.300.000đồng x 20 tháng lương cơ bản = 26.000.000 đồng; tiền xe đi về lúc nhập viện, xuất viện, tái khám 3.000.000 đồng; tộng cộng các yêu cầu được chấp nhận: 47.173.501 đồng là đầy đủ. Bởi lẽ, mặc dù ông B chỉ nằm điều trị trong bệnh viện có 11 ngày nhưng phải mất một thời gian dài ông B mới có thể đi lại và làm việc bình thường nên cần chấp nhận theo yêu cầu của ông B thu nhập thực tế bị mất là 45 ngày x 150.000 đồng/ngày (Bản án sơ thẩm tính 200.000 đ/ngày là không đúng, vì ông B chỉ yêu cầu 150.000đ/ngày) = 6.750.000 đồng và thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc trong thời gian điều trị tại bệnh viện và tái khám: 15 ngày x 150.000 đồng/ngày = 2.250.000 đồng là có cơ sở cần chấp nhận.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm chưa xem xét khoản tiền bồi dưỡng để phục hồi sức khỏe cho ông B là thiếu sót nên cần buộc anh Đ phải bồi thường cho ông B 5.000.000 đồng là phù hợp.

Vì vậy, cần chấp nhận các yêu cầu của nguyên đơn gồm: Chi phí điều trị gồm: viện phí, lệ phí khám bệnh, tiền thuốc (có hóa đơn chứng từ): 11.391.501 đồng. Chi phí sửa xe: 2.382.000 đồng. Thu nhập bị mất khi nằm điều trị của ông Phan Văn B: 45 ngày x 150.000 đồng/ngày = 6.750.000 đồng. Công người chăm sóc: 15 ngày x 150.000 đồng/ngày = 2.250.000 đồng. Tổn thất tinh thần: 1.300.000 đồng x 20 tháng lương cơ bản = 26.000.000 đồng. Tiền xe đi về lúc nhập viện, xuất viện, tái khám 3.000.000 đồng; tiền bồi dưỡng sức khỏe 5.000.000 đồng Tổng cộng: 56.773.501 đồng.

Bị đơn anh Lê Tiến Đ đã bồi thường trước các khoản tiền sửa xe: 2.382.000 đồng; tiền viện phí 1.786.024 đồng. Tổng cộng các khoản anh Đạt đã bồi thường là: 4.168.024 đồng nên phải khấu trừ cho anh Đ và anh Đ còn phải tiếp tục bồi thường cho ông B là: 56.773.501 đồng - 4.168.024 đồng = 52.605.477 đồng (Tính tròn số: 52.605.000 đồng).

Do vậy, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, chấp nhận môt phần kháng cáo của nguyên đơn, sửa bản án dân sự sơ thẩm số 125/2017/DS-ST ngày 15/12/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Lê Tiến Đ phải chịu 2.630.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Do chấp nhận một phần kháng cáo nên ông Phan Văn B không phải chịu tiền án phí phúc thẩm. Đối với anh Lê Tiến Đ do không chấp nhận kháng cáo nên phải chịu tiền án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ khoản 1, 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn - Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 125/2017/DS-ST ngày 15/12/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

[2] Áp dụng khoản 6 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 604; Điều 605; Điều 609 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 26 nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH, ngày 30/12/2017của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Chấp nhận một phần đơn khởi kiện của ông Phan Văn B.

Buộc anh Lê Tiến Đ phải tiếp tục bồi thường cho ông Phan Văn B số tiền 52.605.000 đồng (Năm mươi hai triệu sáu trăm lẻ năm ngàn đồng).

Áp dụng khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự 2015 để tính lãi suất chậm trả

trong giai đoạn thi hành án khi có đơn yêu cầu thi hành án.

- Bác một phần yêu cầu khởi kiện của ông Phan Văn B yêu cầu anh Lê Tiến Đ bồi thường số tiền 76.130.000 đồng (Bảy mươi sáu triệu một trăm ba mươi ngàn đồng).

[3] Về án phí:

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Lê Tiến Đ phải chịu 2.630.000 đồng (Hai triệu sáu trăm ba mươi ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

- Về án phí dân sự phúc thẩm: Anh Lê Tiến Đ phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự phúc thẩm và được khấu trừ số tiền 300.000 đồng mà anh Đ đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai số 0004943 ngày 28/12/2017 tại Chi cục thi hành án thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

Ông Phan Văn B không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ