- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lầu Thị B... - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Căn cứ chính? Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 7 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƢỜNG NHÉ TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 68/2017/HSST Ngày 15/ 9/2017 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƢỜNG NHÉ TỈNH ĐIỆN BIÊN
Với thành phần hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Giàng A Bách.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trịnh Xuân Phùng.
2. Ông Thào A Tủa.
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Dƣơng Thị Nhung.
Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé tham gia phiên tòa:
Ông Lê Xuân Chiến: Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên, mở phiên tòa xét xử, công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 70/2017/HSST ngày 25 tháng 8 năm 2017.
Đối với bị cáo Lầu Thị B. (Tên gọi khác: Lầu Thị S). Sinh năm 1962.
Nơi sinh: Huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.
Nơi ĐKHKTT: Xã Mường N - Mường Nhé - Điện Biên.
Chỗ ở hiện nay: Bản Nậm L, xã Mường Nhé - Mường Nhé - Điện Biên.
Nghề nghiệp: Làm nương. Trình độ văn hóa: Không.
Dân tộc: Mông. Quốc tịch: Việt Nam.
Con ông Lầu Tàng L (đã chết) và con bà Mùa Thị C ( đã chết).
Có chồng Sùng A L và có 05 người con, lớn nhất 26 tuổi, nhỏ nhất 14 tuổi.
Gia đì nh bị cá o có 05 chị em ruột, bị cáo là thứ 01 trong gia đì nh.
Tiền sự: Không; Tiền án: Không.
Bị bắt tạm giữ từ ngày 24 tháng 5 năm 2017. Có mặt tại phiên tòa.
*Người phiên dịch: Anh Thào A Vừ.
Trú tại: Bản Nà Pán, xã Mường Nhé, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên.
NHẬN THẤY:
Bị cáo Lầu Thị B bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé truy tố về hành vi phạm tội như sau.
Vào khoảng 8 giờ ngày 24 tháng 5 năm 2017, bị cáo Lầu Thị B đi bộ theo đường món đến khu vực biên giới Việt Nam – Lào để tìm mua thuốc phiện về sử dụng thì gặp người đàn ông dân tộc Mông, không biết tên, tuổi địa chỉ. Bị cáo Lầu Thị B đã mua thuốc phiện với số tiền là 500.000 VND ông ta đưa cho bị cáo 04 ( bốn) gói nhỏ thuốc phiện, mua bán xong ông ta đi đâu không biết, mục đích để sử dụng. Đến khoảng 17 giờ 15 phút ngày 24 tháng 5 năm 2017 bị cáo Lầu Thị B đang trên đường về nhà thì bị tổ công tác Đồn biên phòng Mường Nhé phát hiện và bắt quả tang cùng toàn bộ vật chứng.
Ngày 30 tháng 5 năm 2017 Cơ quan cả nh sá t điề u tra Công an huyệ n Mườ ng Nhé, đã lậ p biên bả n mở niêm phong , xác đị nh trọ ng lượ ng vậ t chứ ng , thu đượ c của bị cáo Lầu Thị B là: 60,51gam đồ ng thờ i l ấy đi 2,49 gam là m mẫ u vậ t gử i giám định chất ma túy. Số cò n lạ i là : 58,02 gam.
Bản kết luận giám đị nh số : 506/GĐ – PC 54 ngày 24 tháng 6 năm 2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Bi ên kế t luậ n : Mẫ u vật trích ra từ vật chứng gử i đế n giá m đị nh thu đượ c của Lầu Thị B là thuốc phiện. Số mẫ u vậ t 2,49 gam gử i giá m đị nh không hoà n lạ i theo quy đị nh c ủa pháp luật. Tổng trọng lượng vật chứng thu được là 60,51 gam là thuốc phiện.
Bản cáo trạng số : 55/QĐ – VKS - HS ngày 25 tháng 8 năm 2017 của Viện kiể m sát nhân dân huyệ n Mườ ng Nhé truy tố bị c áo Lầu Thị B về tộ i “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy đị nh tạ i khoản 1 Điề u 194 Bộ luậ t Hì nh sự .
Đạ i diệ n Viện kiể m sát thực hành quyền công tố, tại phiên tòa, lờ i luậ n tộ i giữ nguyên quan điể m truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử.
Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/ QH 14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội. Áp dụng khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015.
Áp dụng khoản 1 Điề u 194; điể m p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Lầu Thị B: 24 tháng đến 30 tháng tù.
Không áp dụng khoản 5 Điề u 194 Bộ luậ t Hì nh sự , hình phạt bổ sung là phạt tiề n đối với bị cáo Lầu Thị B.
Áp dụng Điề u 41 Bộ luậ t Hì nh sự ; Điề u 76 Bộ luậ t tố tụng Hình sự. Tịch thu vật chứng tiêu hủ y theo quy đị nh pháp luật.
Bị cáo Lầu Thị B không tranh luậ n gì , về nộ i dung bả n luậ n tộ i, cũng như cáo trạng của đại diệ n Việ n kiể m sá t.
Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu, đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo.
XÉT THẤY:
Qua cuộ c thẩ m vấ n công khai tại phiên tòa và lời khai nhậ n của bị cáo Lầu Thị B, tại cơ quan điều tra , hoàn toàn phù hợp với các chứng cứ, đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Vào hồi 17 giờ 15 phút ngày 24 tháng 5 năm 2017 bị cáo Lầu Thị B đang trên đường về nhà thì bị tổ công tác Đồn biên phòng Mường Nhé phát hiện và bắt quả tang hành vi tàng trữ 60,51 gam với mụ c đí ch để sử dụng.
Bị cáo Lầu Thị B có đủ năng lực chịu trá ch nhiệ m hình sự, biế t rõ “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” là trái quy đị nh của pháp luật sẽ bị trừng trị, nghiêm minh.
Hành vi đó đủ yếu tố cấu thành tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” của bị cáo Lầu Thị B bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé truy tố về tộ i “ Tàng trữ trái phép chất ma tú y” quy đị nh tạ i khoản 1 Điều 194 Bộ luậ t Hì nh sự , là hoàn toàn đúng ngườ i, đú ng tộ i và đú ng quy đị nh củ a phá p luậ t.
Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/ QH 14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội. Áp dụng khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015.
Hành vi của bị cáo Lầu Thị B là nghiêm trọ ng, nguy hiể m cho xã hộ i, xâm hạ i đến chính sách độc quyền , quản lý của Nhà nước về các chất ma túy . Đồng thờ i ảnh hưởng đến trậ t tự , an toàn xã hội tại vùng sâu , vùng xa biên giớ i. Bị cáo Lầu Thị B lẽ ra phải làm gương cho chồng, con, noi theo học tập.
Xét về nhân thân bị cáo Lầu Thị B sinh ra và l ớn lên ở xã Tà Tổng, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu, không được đi học ở nhà phụ giúp gia đình. Năm 1983 xây dựng gia đình và chuyển về bản Nậm Là, xã Mường Nhé, huyện Mường Nhé làm ăn sinh sống. Ngày 20 tháng 5 năm 2010 bị Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé xử phạt 24 thàng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành án xong trở về địa phương. Bị cáo Lầu Thị B có nhận thức rất rõ, về tác hại của ma túy đối với sức khỏe con người và ảnh hưởng đến kinh tế gia đình.
Trong qúa trình điều tra, truy tố , xét xử bị cáo Lầu Thị B đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình đó là tình tiết giảm nhẹ t rách nhiệm hình sự theo quy định tại điể m p khoản 1 Điề u 46 Bộ luậ t Hì nh sự .
Xét thấy cần ph ải cá ch ly bị cáo Lầu Thị B ra khỏ i đờ i số ng xã hộ i , mộ t thờ i gian nhất đị nh, để cải tạo , trở thà nh ngườ i có í ch đồ ng thờ i cũ ng răn đe , phòng ngừ a chung trong quầ n chú ng nhân dân và nhữ ng ai đang có ý đị nh thự c hiệ n hà nh vi phạm tộ i như bị cá o Lầu Thị B bị pháp luật trừng trị, nghiêm minh.
Tại phiên tò a; bị cáo Lầu Thị B đề nghị Hội đồng xét xử , xem xé t giả m nhẹ hình phạt cho bị cá o, lý do gia đình gặp nhiều khó khăn. Hộ i đồ ng xé t xử , sẽ xem xét, khi lượ ng hì nh phạ t đố i vớ i bị cá o.
Căn cứ khoản 5 Điề u 194 Bộ luậ t Hình sự , bị cáo Lầu Thị B còn bị hình phạt bổ sung là phạ t tiề n ; Hộ i đồ ng xé t xử , xét thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình của bị cáo Lầu Thị B còn gặp nhiều khó khăn nên không áp dụng.
Xét thấy đối với người đàn ông dân tộc Mông bán thuốc phiện cho bị cáo. Cơ quan điều tra không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể ở đâu nên không đủ cơ sở, để xác minh làm rõ. Nên Viện kiểm sát không truy tố; Do vậy Hội đồng xét xử, không xem xét trong vụ án.
Về vật chứng vụ án: Áp dụ ng Điề u 41 Bộ luậ t Hì nh sự ; Điề u 76 Bộ luậ t tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu hủ y 58,02 gam thuốc phiện.
Về án phí : Căn cứ Điề u 99 Bộ luậ t tố tụ ng Hì nh sự ; Điề u 23 Nghị quyết số 326 của UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về á n phí , lệ phí Tòa á n. Bị cáo Lầu Thị B thuộc diện hộ nghèo và có đơn nên không phải chịu án phí theo quy đị nh củ a phá p luậ t.
Vì các lẽ trên:
QUYẾ T ĐỊ NH:
1.Tuyên bố bị cá o: Lầu Thị B ( Tên gọi khác: Lầu Thị S) phạm tộ i “ Tàng trữ trái phép chất ma tú y”.
Áp dụng khoản 1 Điề u 194; điểm p khoản 1 Điề u 46 Bộ luậ t Hì nh sự năm 1999. Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/ QH 14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội. Áp dụng khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Lầu Thị B: 26 ( Hai mươi sáu) tháng tù. Thờ i hạ n tù tí nh t ừ ngày bắt tạ m giữ ngà y 24 tháng 5 năm 2017.
2 .Về xƣ̉ lý vậ t chƣ́ ng : Áp dụng điểm c khoản 1 Điề u 41 Bộ luậ t Hì nh sự ; điểm a khoản 2 Điề u 76 Bộ luậ t tố tụ ng Hì nh sự :
- Tịch thu tiêu hủ y: 58,02 gam thuốc phiện đã niêm phong là vật chứng vụ án Lầu Thị B. Theo biên bả n bà n giao giữ a Công an huyệ n Mườ ng Nhé và Chi cụ c thi hành án dân sự huyện Mườ ng Nhé ngà y 28 tháng 8 năm 2017.
3. Về á n phí : Căn cứ Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự. Áp dụng điểm đ khoản 1 Điề u 12 Nghị Quyết số 326 của UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về á n phí, lệ phí Tò a á n. Miễn á n phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lầu Thị B.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo . Bị cáo Lầu Thị B đượ c quyề n khá ng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngà y tuyên á n.
| Nơi nhận: - Phòng KTNV -THA ( TA tỉnh); - VKSND huyện Mường Nhé; - Công an huyện Mường Nhé; - Phòng HCTP Sở Tư Pháp; - Bị cáo; - TB UBND xã ; - Chi Cục THADS huyện Mường Nhé; - Lưu HS, HSTHA. Các Hội thẩm nhân dân | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Giàng A Bách Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa |