vanban.org

Bản án 68/2017/HNGĐ-ST — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

* Xử: Không chấp nhận yêu cầu xin thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn của anh Trần Đăng Kh. *Án phí: Anh Trần Đăng Kh phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh đã nộp 300.000 đồng tại biên lai thu số AA/2015/000… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "anh Khoanh yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẠNG GIANG
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2017/HNGĐ-ST
Ngày: 25 tháng 9 năm 2017
“V/v: Tranh chấp về thay đổi người trực
tiếp nuôi con sau khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG – TỈNH BẮC GIANG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Vinh

Ông Lê Văn La

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: ông Nguyễn Hoàng Cường - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tham gia phiên tòa: ông Trần Văn Mạnh – Kiểm sát viên

Ngày 25 tháng 9 năm 2017, Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 218/2017/TLST- HNGĐ ngày 30 tháng 6 năm 2017 về việc “tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 141/2017/QĐST- HNGĐ ngày 12 tháng 9 năm 2017 giữa các đương sự:

*Nguyên đơn: anh Trần Đăng Kh – sinh năm: 1986 Địa chỉ: Thôn Kh, xã Ngh H, huyện LG, tỉnh Bắc Giang (có mặt)

*Bị đơn: chị Đoàn Thị Tr - sinh năm: 1988 Địa chỉ: Thôn D, xã Ngh H, huyện LG, tỉnh BG (vắng mặt) Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Đoàn Minh Th, sinh năm: 1967; (Theo văn bản ủy quyền ngày 18/8/2017);

Địa chỉ:Thôn D, xã Ngh H, huyện LG, Bắc Giang (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ghi ngày 20/6/2017, bản tự khai ngày 03/7/2017 và các lời khai tiếp theo nguyên đơn anh Trần Đăng Kh trình bày: Anh và chị Đoàn Thị Tr trước đây có quan hệ hôn nhân hợp pháp, đăng ký kết hôn tại UBND xã Ngh H, huyện LG ngày 20/9/2011. Do vợ chồng mâu thuẫn, bất đồng nên năm 2013 đã ra Tòa giải quyết ly hôn. Anh và chị Đoàn Thị Tr có một con chung là Trần Đăng L sinh ngày 30/5/2012. Do khi vợ chồng ly hôn, cháu L chưa đủ 36 tháng tuổi nên Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã quyết định giao cháu L cho chị Tr nuôi. Tuy nhiên, sau khi được giao nuôi con chị Tr không làm tròn trách nhiệm của người mẹ, đó là không đưa con đi làm giấy khai sinh, không cho con đi học, ngăn cản không cho anh thăm con, không nhận đồ, quần áo anh gửi đến cho con, việc làm của chị Tr đã vi phạm quyền được thăm nom con của anh mà Tòa án đã tuyên. Bên cạnh đó, ông Đoàn Minh Th (là ông ngoại của cháu L) đã nhiều lần dạy con anh không được nhận bố, chửi ông, bà nội, chửi anh ở ngoài chợ, ngoài đường, những việc làm của ông Th đã làm ảnh hưởng đến tư cách đạo đức, sự phát triển nhận thức của cháu bé. Vì vậy anh yêu cầu Tòa án xem xét giao cho anh được nuôi cháu L, nay đã được anh đăng ký khai sinh tên là Trần Đăng L, sinh ngày 30/5/2012. Nếu anh được giao nuôi con, anh không yêu cầu chị Tr đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông Đoàn Minh Th là người đại diện được bị đơn Đoàn Thị Tr ủy quyền đã trình bày tại bản tự khai, biên bản ghi lời khai ngày 21/8/2017: Ông xác nhận cháu L sinh ngày 30/5/2012 là con chung của anh Kh, chị Tr. Chị Tr không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của anh Kh vì lý do, cháu L đã được Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang giao cho chị Tr nuôi, từ trước đến nay chị Tr là người nuôi cháu, đã thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ của mình, đảm bảo việc chăm sóc, nuôi dưỡng cho cháu L đầy đủ từ ăn uống, sinh hoạt đến học tập, hiện chị Tr vẫn cho con đi học tại trường, đóng học cho L đầy đủ, chị Tr cũng không có hành vi ngược đãi, đánh đập, cư xử không đúng với con hay gây ảnh hưởng không tốt đến cháu L. Đối với anh Kh, từ khi chị Tr mang thai con cho đến nay anh Kh không có bất cứ trách nhiệm gì, khi chị Tr sinh con tại bệnh viện, anh Kh không nộp viện phí, sau này thì không chu cấp, đóng góp tiền nuôi con. Kể từ khi Tòa án xét xử giao cháu L cho chị Tr nuôi, chị Tr đã làm đơn yêu cầu thi hành án đối với khoản tiền cấp dưỡng nuôi con, Chi cục thi hành án dân sự đã ra quyết định thi hành án giao cho anh Kh để anh Kh thực hiện nghĩa vụ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con, nhưng anh Kh không nộp tiền cấp dưỡng nuôi con từ ngày đó đến nay, hơn nữa hiện nay anh Kh không có nhà cửa, không có nghề nghiệp ổn định, lại có con nhỏ riêng, do đó không đủ điều kiện để nuôi con như anh Kh yêu cầu. Chị Tr không chấp nhận yêu cầu xin thay đổi người nuôi con của anh Kh, đề nghị Tòa án giao cho chị tiếp tục nuôi con.

Tại phiên tòa, anh Trần Đăng Kh vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của mình. Anh Kh khai anh và chị Tr có một con chung tên L (nay là Trần Đăng L), anh không thi hành nghĩa vụ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con theo quyết định thi hành án của Chi cục thi hành án dân sự huyện LG vì lý do tại quyết định ghi tên cháu là Đoàn Minh L, sinh ngày 30/5/2012 là không đúng họ tên, vì tại thời điểm đó giấy khai sinh ghi tên cháu Đoàn Minh L đã bị hủy, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang chỉ ghi cháu tên L chứ không ghi họ Đoàn Minh L. Thời gian qua, anh có mua quà cho con nhưng chị Tr không nhận mà còn vất đi, ông Th có dạy con anh chửi anh và bố, mẹ đẻ anh ở chợ có mọi người chứng kiến.

Ông Đoàn Minh Th vẫn giữ nguyên ý kiến đã trình bày, xác định chị Tr có đủ điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con nên không chấp nhận giao cháu L cho anh Kh nuôi.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tại phiên toà đã phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của thẩm phán, Hội đồng xét xử, của thư ký là đúng quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, của người đại diện theo ủy quyền của bị đơn từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đều đảm bảo thực hiện nghiêm túc, đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình. Về nội dung vụ án, trên cơ sở yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ý kiến trình bày của nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn và các tài liệu chứng cứ thu thập được đề nghị HĐXX tuyên bố không chấp nhận yêu cầu xin thay đổi người nuôi con sau khi ly hôn của nguyên đơn Trần Đăng Kh. Ngoài ra kiểm sát viên còn đề nghị xem xét tuyên về án phí, quyền kháng cáo của đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, sau khi thẩm tra các chứng cứ tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử xét thấy:

Đơn khởi kiện của anh Trần Đăng Kh cùng các tài liệu nộp theo đơn là hợp lệ, đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về hình thức, nội dung đơn khởi kiện. Đây là tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn theo khoản 3 điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự , thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang.

Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang đã thụ lý, giải quyết vụ án theo đúng trình tự thủ tục tố tụng dân sự, đảm bảo thực quyền, nghĩa vụ của đương sự.

Về nội dung tranh chấp: anh Trần Đăng Kh và chị Đoàn Thị Tr đã kết hôn ngày 20/9/2011 và có một con chung tên L sinh ngày 30/5/2012, vợ chồng mâu thuẫn nên năm 2013 đã ra Tòa giải quyết ly hôn. Tại bản án số 18/2014/DSPT ngày 18/3/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã quyết định “giao cháu L, sinh ngày 30/5/2012 cho chị Đoàn Thị Tr tiếp tục nuôi dưỡng. Anh Trần Đăng Kh góp cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 550.000 đồng kể từ ngày 27/12/2013 đến khi cháu L đủ tròn 18 tuổi. Sau khi ly hôn, anh Kh được quyền thăm nom và chăm sóc con chung không ai được cản trở anh Kh thực hiện quyền này. Chị Tr anh Kh phải có trách nhiệm thực hiện việc đăng ký giấy khai sinh cho cháu L theo quy định của pháp luật”.

Theo lời khai của anh Kh, anh xin thay đổi người nuôi con vì lý do chị Tr đã vi phạm việc cho anh thăm nuôi con, không thực hiện việc đi khai sinh cho con, không cho con đi học, ông Đoàn Minh Th còn dạy cháu L chửi ông, bà nội, chửi bố như vậy ảnh hưởng đến tâm lý và sự phát triển của cháu L, tuy nhiên đại diện theo ủy quyền của bị đơn không chấp nhận yêu cầu của anh Kh, đề nghị giao cho chị Tr tiếp tục nuôi con.

Hội đồng xét xử xét thấy, trên thực tế từ trước cho đến nay cháu L, nay được anh Kh đăng ký khai sinh là Trần Đăng L, sinh ngày 30/5/2012, do chị Đoàn Thị Tr trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Về điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng cháu L hiện nay, Tòa án đã xác minh với đại diện thôn D, nơi chị Tr cư trú đã được xác nhận “Cháu L được chị Tr và gia đình chị Tr nuôi dưỡng, chăm sóc chu đáo, đảm bảo phát triển toàn diện cả thể chất lẫn tinh thần”, hiệu trưởng trường mầm non xã Ngh H cũng xác nhận cháu L có được gia đình cho đi học, tuy nhiên việc đi học không đều “niên học 2015-2016 cháu đi học 8 buổi/154 buổi; niên học 2016 – 2017 cháu tham gia học 24 buổi/167 buổi học trong năm và niên học 2017- 2018 cháu L đã đi học được 5 buổi và hiện vẫn đang tiếp tục học tại trường”. Như vậy, mặc dù trong việc cho con tham gia học tập tại trường mầm non chưa đầy đủ, nhưng trên thực tế, chị Tr vẫn đảm bảo trách nhiệm của người mẹ trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng con, không có hành vi ngược đãi với con hay bỏ mặc cho người khác nuôi dưỡng, chăm sóc con của mình. Ngoài ra, ông Th đã xuất trình cho HĐXX hợp đồng lao động, xác nhận thu nhập của chị Đoàn Thị Tr thì thấy hiện chị Tr đang làm việc tại công ty TNHH SAMSUNG DISPLAY Việt Nam, với mức thu nhập khoảng 10.000.000 đồng/tháng, thời gian làm việc ổn định trong ngày.

Đối với anh Kh, quyết định của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã buộc anh Kh có trách nhiệm đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi cháu L, ông Th khai chị Tr đã làm đơn yêu cầu thi hành án đối với khoản đóng góp cấp dưỡng nuôi con, nhưng anh Kh không thi hành, anh Kh đã thừa nhận việc này, song anh khai lý do anh không đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi cháu L là do quyết định thi hành án ghi tên cháu là Đoàn Minh L, không đúng với bản án của Tòa án đã tuyên nên anh không chấp hành. Tòa án đã xác minh tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang thì được cung cấp “Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang đã ra quyết định số 40/QĐ-CCTHA ngày 20/10/2015 buộc anh Trần Đăng Kh sinh năm 1986 ở thôn Kh, xã Ngh H, huyện LG, tỉnh Bắc Giang thi hành khoản tiền cấp dưỡng nuôi con là 550.000 đồng/01 tháng kể từ ngày 27/12/2013 cho đến khi cháu L đủ tròn 18 tuổi nhưng đến nay anh Kh vẫn chưa thi hành khoản tiền cấp dưỡng nuôi con nào. Theo biên bản giải quyết việc thi hành án ngày 25/02/2016 và biên bản xác minh điều kiện thi hành án ngày 05/11/2015, ngày 22/6/2016 nguyên nhân là do anh Kh đi làm bánh thuê, thu nhập không đảm bảo, sinh hoạt ở mức tối thiểu nên chưa có điều kiện để thi hành án”. Hội đồng xét xử đánh giá, việc anh Kh không chấp hành nghĩa vụ đóng góp cấp dưỡng nuôi con đã thể hiện anh không có trách nhiệm với cháu L, anh Kh cho rằng Chi cục thi hành án đã ra quyết định thi hành án không đúng họ, tên của con mình nên không thi hành, nhưng thực tế anh và chị Tr chỉ có một con chung là cháu L, sinh ngày 30/5/2012, ngoài cháu L hiện nay chị Tr không có con nào khác, lời khai của anh Kh thể hiện sự máy móc và cố tình không chấp hành quyết định thi hành án của anh Kh, hơn nữa tại biên bản làm việc và xác minh của Chi cục thi hành án về điều kiện thi hành án của anh Kh xác định nguyên nhân anh Kh không đóng góp cấp dưỡng nuôi con là do anh không có điều kiện để thi hành án chứ không phải do quyết định thi hành án ghi không đúng họ tên cháu L. Anh Kh còn khai chị Tr có hành vi ngăn cản không cho anh thăm con, không cho anh gửi đồ cho con nhưng khi Tòa án xác minh, làm việc với đại diện thôn D thì không thấy phản ánh việc này. Do đó, HĐXX nhận xét anh Kh đã không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình theo quy định tại điều 81, 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Từ những tài liệu, chứng cứ thu thập được cùng với đánh giá trên cho thấy, đến nay cháu Trần Đăng L vẫn được chị Tr chăm sóc, nuôi dưỡng ổn định, chị Tr không có hành vi ngược đãi con, có nơi cư trú, có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên chị Tr vẫn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, HĐXX xét thấy không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu xin thay đổi người nuôi con của anh Trần Đăng Kh.

Về án phí: Anh Trần Đăng Kh phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 3 điều 28, điều 35; điều 39; điều 70; điều 71; điều 72; điều 147; điều 235; điều 271; điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Điều 26 của Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu án phí, lệ phí.

* Xử: Không chấp nhận yêu cầu xin thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn của anh Trần Đăng Kh.

*Án phí: Anh Trần Đăng Kh phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh đã nộp 300.000 đồng tại biên lai thu số AA/2015/0002407 ngày 30/6/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang.

Nguyên đơn, bị đơn do người đại diện theo ủy quyền có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm.

Nơi nhận:

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

-VKSND huyện L G;

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

-THADS huyện LG;

-Các đương sự;

-Lưu.

Nguyễn Thị Hằng (đã ký)

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán sơ cấp – Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ