vanban.org

Bản án 679/2019/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Hà Nội Tuyên án 11/09/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 11/09/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1) Áp dụng các điểm a, i khoản 1 Điều 134; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2017, xử phạt Nguyễn Quang Đ 07 (Bảy) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tich ”, thời hạn chấp hành hình phạt

tù tính từ ngày bắt đầu thi hành án. 2) Căn cứ các Điều 584; 585; 586; 590 của Bộ luật Dân sự : Buô ̣c Nguyễn Quang Đ phải bồi thường cho anh Triệu Văn H 33.821.800 đồng (Ba mươi ba triê ̣u tám trăm hai mốt ngà n tá m trăm đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quang Đ - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? 1) Áp dụng các điểm a, i khoản 1 Điều 134; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2017, xử phạt Nguyễn Quang Đ 07 (Bảy) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tich ”, thời hạn chấp hành hình phạt
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
–––––––––––––––
Bản án số: 679/2019/HS-PT
Ngày: 11-9-2019

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Trần Nam Hà.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Phổ và ông Hoàng Văn Thành.

- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Tuấn Dũng - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Đồng - Kiểm sát viên.

Ngày 11/6/2019 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 514/2019/TLPT-HS ngày 24/7/2019 theo Quyết định đưa vụ án hình sự ra xét xử phúc thẩm số 504/2019/QĐXXPT-HS ngày 30/7/2019 đối với bị cáo Nguyễn Quang Đ do có kháng cáo của bị cáo và bi ̣ hại đối với bản án hình sự sơ thẩm số 74/2019/HS-ST ngày 31/5/2019 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.

Bị cáo có kháng cáo va bi ̣ khang cao : NGUYỄN QUANG Đ , sinh năm 1969;

̀

́

́

ĐKNKTT và trú tại: Xóm A, thôn K, xã T, huyện TR, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 07/10; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Quang B và bà Cao Thị N; có vợ là Triệu Thị Thanh H (Đã ly hôn) và 02 con, lớn sinh năm 1991, nhỏ sinh năm 1993; tiền án: Chưa; tiền sự: Ngày 27/8/2016, Công an huyện Thanh Trì xử phạt hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi xâm phạm sức khỏe của người khác, bị cáo mới nộp tiền phạt ngày 29/8/2019; nhân thân: Bản án số 132/1995/HSST ngày 27/10/1995 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội xử phạt 14 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng”; tại Bản án hình sự phúc thẩm số 18/1995/HSPT ngày 27/12/1995 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã hủy toàn bộ bản án hình sự sơ thẩm số 132/1995/HSST ngày 27/10/1995 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, (Xác minh tại Công an và Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì: Không có kết quả giải quyết lại vụ án này); bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

1/6

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Đỗ Thị Hương - Luật sư thuộc Văn phòng luật sư Bảo Nhân - Đoàn luật sư thành phố Hà Nội. Có mặt.

Bị hại có kháng cáo: Anh Triệu Văn H, sinh năm 1968; ĐKNKTT và trú tại: Xóm L, thôn K, xã T, huyện TR, thành phố Hà Nội. Có mặt.

Ngườ i bảo vê ̣ qu yền lợi cho bi ̣ hại : Ông Phan Thiết - Luâ ̣t sư thuô ̣c Văn phòng luật sư ATV - Đoàn luâ ̣t sư thành phố Hà Nô ̣i. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 20 giờ ngày 01/11/2018, anh Triệu Văn H cùng vợ là chị Đỗ Thị Ng đến nhà ông Nguyễn Quang Đa ở xóm L, thôn K, xã T, huyện TR để dự đám cưới. Khi anh H đang ngồi uống nước thì Nguyễn Quang Đ cũng đến ngồi uống nước cùng bàn. Do có mâu thuẫn, khúc mắc từ trước nên Đ cầm 01 chén nước chè đổ vào người anh H; tiếp đó, Đ cầm chiếc ấm pha trà bằng sứ kích thước 10x10cm để trên bàn nước đập vào mặt khiến anh H bị rách da, chảy máu. Được mọi người can ngăn nên Đ đi về nhà, còn anh H được mọi người đưa đến Bệnh viện 103 cấp cứu.

Tại Giấy chứng nhận thương tích của Bệnh viện 103 ngày 15/11/2018 thể hiện: “Vùng mặt và góc trong mắt 02 bên da mi dưới có 01 vết thương dài khoảng 4cm góc trong mi dưới trái, đứt bờ tự do mi dưới, đứt lệ quản dưới 1/3 ngoài, vết thương gọn, sạch, dài, không lộ xương; 01 vết thương dài khoảng 2cm góc trong mi dưới phải, gọn, đáy sạch, không đứt bờ tự do mi dưới, song song nếp nằn mi dưới; xuất huyết dưới da mi rải rác, tụ máu vùng trán trái, kích thước 4x4cm; nhãn cầu 02 bên không có tổn thương; thị lực mắt trái 2,5/10, mắt phải 2/10”.

Tại Bản kết luận giám định pháp y thương tích số

1110/TTPY ngày 06/12/2018 và Bản kết luận giám định pháp y thương tích bổ sung số 113/TTPY ngày 15/02/2019 của Trung tâm pháp y - Sở Y tế Hà Nội kết luận: “Các vết thương, vết mổ phần mềm: 03%; đứt lệ đạo (Lệ quản) dưới mắt trái, đã phẫu thuật: 07%; hiện bênh nhân từ chối khám chuyên khoa mắt nên không đánh giá được hết mức độ di chứng đứt lệ đạo dưới mắt trái. Đề nghị giám định bổ sung sau nếu có căn cứ; các chạm thương phần mềm khác không còn sưng nề bầm tím, không tổn thương xương; nhiều khả năng các chạm thương và thương tích do vật tày, vật có cạnh sắc gây nên; tỷ lệ tổn hại sức khỏe: 10%”.

Quá trình điều tra không thu giữ được chiếc ấm bằng sứ màu xanh kích thước 10x10cm mà Nguyễn Quang Đ sử dụng gây thương tích cho anh H. Anh

2/6

Triệu Văn H yêu cầu Nguyễn Quang Đ bồi thường 75.000.000 đồng, bao gồm tiền thuốc, tiền viện phí và tiền tổn thất tinh thần.

Bản án hình sự sơ thẩm số 74/2019/HS-ST ngày 31/5/2019 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì đã áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2017, xử phạt Nguyễn Quang Đ 07 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tich”; buô ̣c bi ̣ cáo bồi thườ ng thương tich 21.951.800 đồng.

́

́ Ngoài ra bản án hình sự sơ thẩm còn quyết định về biện pháp bảo đảm thi hành án, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 02/6/2019, bị cáo Nguyễn Quang Đ kháng cáo đề nghị được giảm nhẹ hình phạt và được hưở ng án treo.

Ngày 05/6/2019, bị hại Triệu Văn H kháng cáo đề nghị tăng hình phạt và tăng bồi thườ ng.

Tại phiên tòa: Những ngườ i kháng cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo . Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội sau khi đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ các Điều 331; 332; 333 và 334; điểm a, b khoản 1 Điều 355; điểm a, b khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự để chấp nhận các kháng cáo về hình thức , không chấp nhâ ̣n kháng cáo của bị cáo Nguyễn Quang Đ , chấp nhâ ̣n kháng cáo của bi ̣ ha ̣i , tăng hình phạt và tăng bồi thường, cụ thể: Áp dụng các điểm a, i khoản 1 Điều 134; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 (Tái phạm) của Bộ luật hình sự năm 2017, xử phạt Nguyễn Quang Đ từ 09 đến 12 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”; buô ̣c bi ̣ cáo bồi thườ ng thêm cho bi ̣ ha ̣i khoản tiền tổn thất tinh thầ n theo mức lương tối thiểu là 1.490.000 đồng.

Bị cáo Nguyễn Quang Đ cho rằng bản án trước đây của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì đã xử bị cáo 14 tháng tù treo nhưng sau đó đã bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội hủy toàn bộ bản án để điều tra lại; từ đó đến nay không thấy các Cơ quan tố tụng có động tác gì đối với bị cáo. Người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến nguyên nhân phạm tội là do bị hại vay tiền vợ bị cáo nhiều năm không trả; bị cáo đã nộp tiền phạt hành chính; bản thân bị bệnh; là lao động chính, nuôi mẹ già; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã nộp tiền bồi thường thiệt hại; có địa chỉ cư trú rõ ràng; đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự để xem xét cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội. Về bồi thường thiệt hại, Tòa cấp sơ thẩm áp dụng mức lương 1.390.000 đồng để tính tổn thất tinh thần là đúng vì bị cáo phạm tội vào thời điểm năm 2018.

3/6

Anh Triệu Văn H và người bảo vệ quyền lợi cho anh đồng tình quan điểm của Kiểm sát viên và đề nghị: Bị cáo đã có 01 tiền án, 01 tiền sự về hành vi gây thương tích nhưng chưa nộp án phí và tiền phạt nên chưa được xóa; nay lại tiếp tục phạm tội, phạm tội lần này là tái phạm; hành vi có tính côn đồ, hung hãn; sau khi phạm tội không thăm hỏi, bồi thường; không thể hiện thái độ ăn năn. Đề nghị không áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51; áp dụng các điểm d, h khoản 1 Điều 52 để không cho bị cáo được hưởng án treo mà cần cách ly bị cáo khỏi xã hội; buộc bị cáo bồi thường các khoản tiền thuê xe, chi phí điều trị, phục hồi, mất thu nhập, tổn thất tinh thần, tổng cộng là 79.956.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm vụ án này, các cơ quan và người tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự; không ai có ý kiến thắc mắc, khiếu nại gì. Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định bị cáo và bi ̣ ha ̣i có kháng cáo là hợp lệ, được chấp nhận.

Về nội dung: Do có khúc mắc, mâu thuẫn với nhau từ trước nên khoảng 20 giờ ngày 01/11/2018 tại nhà ông Nguyễn Quang Đa ở xóm L, thôn K, xã T, huyện TR, Nguyễn Quang Đ đã dùng 01 chiếc ấm pha trà bằng sứ màu xanh, kích thước 10x10cm - Là hung khí nguy hiểm đánh vào mặt anh Triệu Văn H gây tổn hại sức khỏe là 10%. Hành vi nêu trên của Nguyễn Quang Đ bị Tòa án cấp sơ thẩm kết án về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là đúng.

Xét các kháng cáo Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về trách nhiệm hình sự: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe, tinh thần của người khác; gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương. Về nhân thân, bản án số 132/1995/HSST ngày 27/10/1995 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội đã xử phạt bị cáo 14 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tuy nhiên, tại bản án hình sự phúc thẩm số 18/1995/HSPT ngày 27/12/1995 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã hủy toàn bộ bản án hình sự sơ thẩm nói trên để điều tra lại. Qua xác minh tại Công an và Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì thì không có kết quả giải quyết lại vụ án này; Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Trì cũng xác nhận không có thông tin về

4/6

việc chấp hành án liên quan đến bản án hình sự sơ thẩm nêu trên nên không có cơ sở để xác định bị cáo đã có tiền án. Tuy nhiên, ngày 27/8/2016, bị cáo đã bị Công an huyện Thanh Trì xử phạt hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích”, bị cáo mới nộp tiền phạt ngày 29/8/2019 nên tiền sự này chưa được xóa. Trong vụ án này, chỉ vì nguyên cớ nhỏ nhặt không đáng có, bị cáo đã dùng ấm pha trà đập nhiều lần vào vùng mặt, vùng đầu anh H; hành vi trên của bị cáo thể hiện tính côn đồ nên cần thiết phải áp dụng thêm tình tiết tăng nặng “Có tính chất côn đồ” theo điểm i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự để xem xét tăng hình phạt đối với bị cáo mới thỏa đáng. Tuy nhiên, tại Cơ quan điều tra và tại các phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi xét xử sơ thẩm đã tự nguyện nộp khoản tiền bồi thường thương tích cho anh H; có ông Nội là liệt sĩ; bị cáo và bị hại là hàng xóm, láng giềng, là người cùng thôn; đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2017. Căn cứ tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi; nhân thân của bị cáo; đối chiếu các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ thì Hội đồng xét xử thấy rằng mức hình phạt 07 tháng tù đã tuyên đối với bị cáo là phù hợp, cần giữ nguyên.

Về trách nhiệm dân sự: Xét kháng cáo của bị hại trên cơ sở các quy định của pháp luật dân sự; xem xét đến điều kiện hoàn cảnh kinh tế, gia đình của bị cáo; mức sống, mức thu nhập, chi phí hợp lý, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo yêu cầu tăng bồi thường của bị hại, buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Triê ̣u Văn H những khoản sau đây : Tiền thuốc và điều tri ̣ 5.271.800 đồng; tiền bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe là 3.000.000 đồng; thu nhâ ̣p bi ̣ mất trong thờ i gian điều tri ̣ (Từ ngà y 01/11/2018 đến ngày 06/11/2018) và trong 10 ngày tiếp theo (Chưa cắ t chi khâu mắ t) là 16 ngày x 200.000/1 ngày = 3.200.000 đồng; tổn

̉ thất tinh thần là 15 tháng lương tối thiểu x 1.490.000 đồng = 22.350.000 đồng; tổng cô ̣ng là 33.821.800 đồng.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật.

Về án phí phúc thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án thì bị cáo phải nộp án phí hình sự phúc thẩm và án phí dân sự sơ thẩm sau khi Hô ̣i đồng xét xử phúc thẩm đa xã ́c đi ̣nh la ̣i mứ c bồi thườ ng thiê ̣t ha ̣i.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

5/6

1. Căn cứ các điểm a, b khoản 1 Điều 355; điểm b khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Quang Đ, chấp nhâ ̣n một phần kháng cáo của bi ̣ ha ̣i Triê ̣u Văn H , sửa bản án sơ thẩm, cụ thể:

1.1) Áp dụng các điểm a, i khoản 1 Điều 134; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2017, xử phạt Nguyễn Quang Đ 07 (Bảy) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tich ”, thời hạn chấp hành hình phạt

́

tù tính từ ngày bắt đầu thi hành án.

1.2) Căn cứ các Điều 584; 585; 586; 590 của Bộ luật Dân sự : Buô ̣c Nguyễn Quang Đ phải bồi thường cho anh Triệu Văn H 33.821.800 đồng (Ba mươi ba triê ̣u tám trăm hai mốt ngà n tá m trăm đồng).

1.3) Bị cáo Nguyễn Quang Đ phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngà n đồng ) án phí hình sự phúc thẩm và 1.690.000 đồng (Một triệu sáu trăm chín mươi ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

1.4) Ghi nhận bị cáo Nguyễn Quang Đ đã nộp khoản tiền 23.248.800 đồng (Theo Biên lai thu tiền ngày 06/8/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện TR, thành phố Hà Nội); trong đó có 1.097.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 21.951.800 đồng tiền bồi thường cho anh Triệu Văn H. Như vậy, bị cáo Nguyễn Quang Đ còn phải tiếp tục bồi thường cho anh Triệu Văn H 11.870.000 đồng (Mười một triệu tám trăm bảy mươi ngàn đồng), nộp tiếp 593.000 đồng (Năm trăm chín mươi ba ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm và 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ