vanban.org

Bản án 676/2025/HNGĐ-ST — Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn...

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi bổ sung năm 2014);

Luật án phí lệ phí 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn... — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi bổ sung năm 2014);
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 676/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 10 - 9- 2025
V/v ly hôn

NHAÂN DANH

NÖÔÙC COÄNG HOØA XAÕ HOÄI CHUÛ NGHÓA VIEÄT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Vôùi thaønh phaàn Hoäi ñoàng xeùt xöû sô thaåm goàm coù:

Thaåm phaùn - Chuû toïa phieân toøa: Bà Chu Thị Bình

Các Hoäi thaåm nhaân daân: 1/ Ông Nguyễn Hồng Khanh

2/ Ông Trần Quốc Hà

Thö kyù phieân toøa: Bà Đoàn Mỹ Linh - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Thành phố Hồ Chi Minh.

Ñaïi Deän Vieän kieåm saùt nhaân daân khu vực 7 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Dương - Kieåm saùt vieân.

Ngày 10 tháng 9 năm 2025 tại phòng xử án của Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 719/2025/HNST, ngày 10 tháng 6 năm 2025 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 830/2025/QĐXXST-HN ngày 25 tháng 7 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 1848/2025/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trần Thị H, sinh năm 1997; Địa chỉ: Số a, Phường L, quận G (nay là phường A) Thành phố H. (Có đơn xin vắng mặt)

Bị đơn: Anh Phạm Hoàng Th, sinh năm 1993; Địa chỉ: Số b, Phường L, quận G (nay là phường A) Thành phố H. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 26/5/2025, bản tự khai và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bà Trần Thị H trình bày:

Bà Trần Thị H và ông Phạm Hoàng Th kết hôn năm 2020 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường J, quận P (nay là phường P) Thành phố H. Theo giấy chứng nhận kết hôn số 06, cấp ngày 24/2/2020, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn,vợ chồng chung sống hơn 3 năm, đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông Phạm Hoàng Th ngoại tình, không quan tâm con, vợ chồng đã có tự góp ý xây dựng với nhau nhưng không cùng chung quan điểm, vợ chồng đã ly thân từ tháng 6/2024 đến nay, tình cảm vợ chồng không còn, nên bà H làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân Khu vực 7 – Thành phố H giải quyết cho bà được ly hôn với ông Th.

Về con chung: Có 01 con chung tên là Phạm Hoàng Thiên D, sinh ngày 20/12/2023 bà H xin nuôi dưỡng con chung. Trong đơn khởi kiện bà Yêu cầu ông Th cấp dưỡng nuôi con 10.000.000 đồng/tháng. Nhưng trong quá trình giải quyết vụ án bà H thay đổi yêu cầu chỉ yêu cầu ông Th cấp dưỡng nuôi con 3.000.000đ/ tháng.

Về tài sản chung: Bà Trần Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ kiện này.

Đại Dện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 – Thành phố H phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử như sau:

* Về tố tụng:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm xét xử thấy rằng Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 trong quá trình giải quyết vụ án về thẩm quyền thụ lý vụ án, xác định đúng quan hệ tranh chấp, xác định tư cách pháp lý, và mối quan hệ của những người tham gia tố tụng, cũng như thời hạn gửi các văn bản tố tụng, hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu.

- Về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.

- Về chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay:

Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại các Điều 70, Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015,

Bị đơn chưa thực hiện quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

* Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

- Bà Trần Thị H yêu cầu ly hôn với ông Phạm Hoàng Th là có cở sở.

- Về con chung: Có 01 con chung tên là Phạm Hoàng Thiên D, sinh ngày 20/12/2023 giao cho bà H là người trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Th cấp dưỡng nuôi con 3.000.000 đồng/tháng.

- Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xét.

- Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Yêu cầu xin ly hôn của bà Trần Thị H đối với ông Phạm Hoàng Th là quan hệ tranh chấp về hôn nhân gia đình. Căn cứ phiếu yêu cầu xác minh của Tòa án nhân dân Khu vực 7 – Thành phố H, ngày 23 tháng 6 năm 2025 kết quả xác minh của Công an Phường 14, quận Gò Vấp (nay là phường An Hội Tây), Thành phố Hồ Chí Minh cho biết ông Phạm Hoàng Th có tạm trú tại số Số b, Phường L, quận G (nay là phường A) Thành phố H. Do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 7 – Thành phố H theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung: Căn cứ giấy chứng nhận kết hôn số 06 cấp ngày 24/02/2020 tại Ủy ban nhân dân Phường K, quận P (nay là phường P), Thành phố H thể hiện hôn nhân giữa bà Trần Thị H và ông Phạm Hoàng Th là quan hệ hôn nhân hợp pháp, nên phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về yêu cầu xin ly hôn của bà H, xét thấy trong thời gian chung sống, vợ chồng không hòa hợp, luôn phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã, theo bà H trình bày do ông Th ngoại tình. Hai bên tự hòa giải và đóng góp ý kiến với nhau để hàn gắn hạnh phúc gia đình nhưng không giải quyết được mâu thuẫn, không thể tiếp tục sống chung. Nay bà H yêu cầu ly hôn với ông Th. Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu của bà H là phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Vì thực tế tình cảm vợ chồng đã rạn nứt không thể hàn gắn được. Bà H khai hai vợ chồng không còn hạnh phúc, do ông Thđã ngoại tình, không có tiếng nói chung nên bà H và ông Th đã ly thân từ tháng 6/2024 đến nay. Bà H xác định tình cảm vợ chồng không còn. Mục đích hôn nhân không đạt được thì không nhất thiết phải kéo dài cuộc sống vợ chồng nữa; Tòa án cũng đã triệu tập ông Th đến Tòa để ghi lời khai, tham dự phiên họp công khai chứng cứ và hoà giải, tham dự phiên Tòa, nhưng ông Th không đến. Điều này thể hiện ý chí của ông Thbỏ mặc việc ly hôn của bà H tại Tòa án. Nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị H với ông Phạm Hoàng Th.

Về con chung: Bà H khai có 01 con chung tên là Phạm Hoàng Thiên D, sinh ngày 20/12/2023. Bà H yêu cầu là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Trong đơn khởi kiện bà yêu cầu ông Th cấp dưỡng nuôi con 10.000.000 đồng/tháng, nhưng trong quá trình giải quyết vụ án bà H thay đổi yêu cầu, chỉ yêu cầu ông Thcấp dưỡng nuôi con 3.000.000 đồng một tháng. Yêu cầu của bà H về nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 110, Điều 116, Điều 117 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ kiện này, nên Tòa án không xem xét.

Về án phí: Bà H phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 đồng theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của đại Dện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 – Thành phố Hồ Chí Minh là có cơ sở.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 232, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 59, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 110, Điều 116, Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi bổ sung năm 2014);

- Luật án phí lệ phí 2015;

- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị H xin ly hôn với bị đơn là ông Phạm Hoàng Th.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị H được ly hôn với ông Phạm Hoàng Th; Giấy chứng nhận kết hôn số 06, cấp ngày 24/2/2020 do Ủy ban nhân dân Phường K, quận P (nay là phường P), Thành phố H cấp không còn giá trị.

2. Về con chung: Có 01 con chung tên là Phạm Hoàng Thiên D, sinh ngày 20/12/2023 giao cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Phạm Hoàng Th có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con 3.000.000 đồng/tháng, bắt đầu thực hiện từ tháng 9 năm 2025 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Kể từ khi bà Trần Thị H có đơn yêu cầu thi hành án, ông Phạm Hoàng Th chưa đóng góp số tiền cấp dưỡng nêu trên thì hàng tháng ông Thcòn phải chịu tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 bộ luật dân sự năm 2015.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Vì lợi ích của con khi có lý do chính đáng, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.

4. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Trần Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà H đã đóng tạm nộp theo biên lai thu số 0000160 ngày 10/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận G (nay là Phòng thi hành án dân sự Khu vực 7) Thành phố H. Ông Phạm Hoàng Th án phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con 300.000 đồng.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a; 7b và 9 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung 2014).

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ