- Tranh chấp gì? "Bà Trần Thị S kiện Ủy ban nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu về “Khởi kiện đối với hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân huyệ…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị S.
- Căn cứ chính? Điều 143 Luật tố tụng hành chính; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 116 Luật tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 676/2019/QĐ-PT | Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 25 tháng 9 năm 2019. |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI QUYẾT ĐỊNH
ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÀNH CHÍNH
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Hội đồng phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Tô Chánh Trung
Các Thẩm phán:
Ông Đặng An Thanh
Bà Trần Thị Hòa Hiệp
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên họp: Bà Đinh Thị Trang, cán bộ Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Ông Trần Ngọc Đảm, Kiểm sát viên.
Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số: 58/2018/QĐST-HC ngày 31/10/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 116; điểm a khoản 1 Điều 123; điểm g, h khoản 1 Điều 143; Điều 144 Luật tố tụng hành chính năm 2015, Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính về: “Khởi kiện đối với hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân huyện Xuyên Mộc về việc thu hồi 90.000m2 đất tại Đội 1, xã Bàu Lâm (nay là ấp Bàu Chiên, xã Tân Lâm- Phía đông lộ 328) huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu nhưng không ban hành quyết định thu hồi đất, không đền bù, hỗ trợ hoặc trả lại cho bà Trần Thị Sanh” giữa các đương sự:
Người khởi kiện: Bà Trần Thị S, sinh năm 1951. Địa chỉ: Đội 3, ấp 4, xã Đồng Tâm, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.
Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Địa chỉ: Số 151, Quốc lộ 55, thị trấn Phước Bửu, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu. Địa chỉ: Số 01 Phạm Văn Đồng, phường Phước Trung, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Công ty Cổ phần Cao su Thống Nhất. Địa chỉ: Số 256 Đường 27/4, phường Phước Trung, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Công ty Cổ phần nông nghiệp Hòa Lâm. Địa chỉ: Số 60B Nguyễn Văn Thủ, phường Đa Kao, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
NHẬN THẤY:
Ngày 14/11/2018, người khởi kiện bà Trần Thị S đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cáp phúc thẩm hủy toàn bộ đối với Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số: 58/2018/QĐST-HC ngày 31/10/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu với lý do có những sai lệnh về nhận thức nội dung vụ án, mâu thuẫn trong áp dụng các văn bản quy phạm pháp luật và cách xác định thời hạn, thời hiệu do lỗi của cơ quan Nhà nước thì không tính thời hiệu khởi kiện theo điểm a khoản 2 Điều 12 của Nghị quyết số 02/2011/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán hướng dẫn.
Kiểm sát viên tham gia phiên họp phát biểu quan điểm tại phiên họp: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên họp đã chấp hành đúng các quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2015.
- Về nội dung: Ngày 30/11/2017 bà Trần Thị S có đơn khởi kiện là không còn thời hiệu khởi kiện theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 01/2015/NQ-HĐTP ngày 15/01/2015 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao và điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính năm 2015. Nên đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị S giữ nguyên Quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm xử.
XÉT THẤY:
- Đơn kháng cáo của bà Trần Thị S kháng cáo trong thời hạn luật định, nên kháng cáo hợp lệ.
Xét nội dung vụ án thì thấy:
- Theo đơn khởi kiện của bà Trần Thị S bà cho rằng bà khai phá được 90.000m2 đất tại Đội 1, xã Bàu Lâm, huyện Xuyên Mộc (nay là ấp Bàu Ngứa, xã Tân Lâm).
Năm 1994 UBND huyện Xuyên Mộc thu hồi đất giao cho Công ty Cao su Thống Nhất mà không ra quyết định thu hồi, không giải quyết bồi thường nên bà khiếu nại.
Sau thời gian khiếu nại chính quyền các cấp không giải quyết theo yêu cầu của bà nên bà khởi kiện yêu cầu:
Tòa án tuyên hành vi hành chính của UBND huyện Xuyên Mộc về việc cưỡng chế thu hồi 90.000m2 đất tại Đội 1, xã Bàu Lâm, huyện Xuyên Mộc (nay là ấp Bàu Ngứa, xã Tân Lâm) nhưng không ban hành quyết định thu hồi đất, không đền bù, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất cho gia đình bà là trái quy định của pháp luật.
Bà yêu cầu Tòa án buộc UBND huyện Xuyên Mộc phải bồi thường thiệt hại kinh tế cho gia đình bà S từ ngày 26/5/1993 đến nay với số tiền 17.280.000.000đ.
Yêu cầu Tòa án buộc UBND huyện Xuyên Mộc trả lại phần đất có diện tích 90.000m2 đất tại Đội 1, xã Bàu Lâm, huyện Xuyên Mộc (nay là ấp Bàu Ngứa, xã Tân Lâm) cho gia đình bà S.
Theo hồ sơ thể hiện thì quá trình giải quyết đơn của bà S thể hiện như sau:
Ngày 20/4/1994, UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ban hành Quyết định số 743/QĐ.UBT giải quyết đơn khiếu nại của các hộ dân (trong đó có hộ bà S).
Ngày 03/5/1994, UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ban hành Quyết định số 777/QĐ-UBT thu hồi 500 ha đất rừng hoang tại xã Hòa Hiệp, xã Bàu Lâm, huyện Xuyên Mộc.
Sau khi ban hành Quyết định số 777/QĐ-UBT các hộ dân tại xã Hòa Hiệp, huyện Xuyên Mộc có đơn khiếu nại yêu cầu đền bù nhà cửa, đất đai, hoa màu trong khu vực thu hồi đất.
Ngày 23/5/1995, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 460/QĐ-UBT giải quyết khiếu nại của một số hộ dân tại xã Hòa Hiệp, huyện Xuyên Mộc.
Ngày 08/12/1998, UBND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu ban hành văn bản số 3929/UB-VP và Quyết định số 3166/QĐ-UB giải quyết khiếu nại của ông Nguyễn Văn G đại diện cho 54 hộ dân.
Ngày 01/7/1999 UBND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu ban hành Quyết định 3403/QĐ-UB bác đơn khiếu nại của 54 hộ dân (trong đó có hộ bà S).
Ngày 31/3/2004 Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Văn bản số 932/BTNMT-TTg giải quyết khiếu nại của các hộ dân với nội dung: Không chấp nhận khiếu nại của các hộ dân giữ nguyên Quyết định 3403/QĐ-UB của UBND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
Xét thấy bà S khiếu nại đã được UBND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu giải quyết lần sau ngày 01/7/1999; Bộ Tài nguyên và Môi trường giải quyết cuối cùng ngày 31/3/2004.
Đến ngày 06/02/2018, bà Trần Thị S mới khởi kiện tại Tòa án là hết thời hiệu khởi kiện theo quy định điểm a khoản 2 Điều 116; điểm a khoản 1 Điều 123; điểm g, h khoản 1 Điều 143; Điều 144 Luật tố tụng hành chính năm 2015
Do đó, Hội đồng phúc thẩm chấp nhận ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát, không chấp nhận đơn kháng cáo của bà Trần Thị S, giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số: 58/2018/QĐST-HC ngày 31/10/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Bà Trần Thị S không phải chịu án phí hành chính phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 243 Luật tố tụng hành chính năm 2015; Điều 2 Luật người cao tuổi năm 2009;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
Không chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị S.
1. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số: 58/2018/QĐST-HC ngày 31/10/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
2. Về án phí hành chính phúc thẩm: Bà Trần Thị S không phải chịu án phí.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày 25 tháng 9 năm 2019.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Đặng An Thanh
Trần Thị Hòa Hiệp
Tô Chánh Trung
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - VKSDNCC tại Tp. Hồ Chí Minh; - TAND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; - VKSND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; - Cục THADS tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; - Đương sự; - Lưu văn phòng, hồ sơ vụ án (ĐTT-15). | TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Tô Chánh Trung |