- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân số…; Luật Phí và lệ phí
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 675/2025/HNGĐ-ST Ngày: 09-9-2025 V/v Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Trang
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Kim Anh
2. Ông Võ Thành Viên
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thu Hoài - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 - Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Cẩm Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 9 năm 2025 tại Tòa án nhân dân khu vực 7 – Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 545/2025/TLST – HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2025 về việc “Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1783/2025/QĐXX-HNGĐ ngày 14 tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1993.
Địa chỉ thường trú: Quận V (nay là phường V), Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ tạm trú: Quận V (nay là phường V), Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt tuyên án).
Bị đơn: Ông Trần Công A, sinh năm 1984.
Địa chỉ: Quận V (nay là phường V), Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngân trình bày:
Bà và ông Trần Công A đã ly hôn theo Bản án số 897/2022/HNGĐ-ST, ngày 28/6/2022. Theo bản án trên thì ông A là người trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Trần Minh Đ, sinh ngày 29/6/2018, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với bà N khi có yêu cầu. Quá trình ông A nuôi con bà cho rằng ông A không tạo điều kiện cho bà thăm nom con, và còn đánh đập bà.
Nay bà yêu cầu giao con chung cho bà trực tiếp nuôi dưỡng, bà không yêu cầu ông A cấp dưỡng nuôi con chung.
Ngoài ra, bà không có ý kiến gì khác.
Tại tờ tự khai ngày 14/8/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn là ông Trần Công A trình bày:
Ông và bà Nguyễn Thị N đã ly hôn theo Bản án số 897/2022/HNGĐ-ST, ngày 28/6/2022. Theo bản án trên thì ông A là người trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Trần Minh Đ, sinh ngày 29/6/2018, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với bà N khi có yêu cầu.
Bà N khởi kiện yêu cầu được nuôi con, ông không đồng ý giao con cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng, theo bản án ông là người nuôi con ông vẫn tạo điều kiên cho bà N thăm nom con. Nay ông yêu cầu được trực tiếp nuôi con theo Bản án số 897/2022/HNGĐ-ST, ngày 28/6/2022 và không yêu cầu bà N cấp dưỡng nuôi con do ông có điều kiện nuôi con tốt, thu nhập ổn định, ngoài ra để tránh ảnh hưởng đến sự phát triển tâm sinh lý của trẻ, đặc biệt là việc học tập, giáo dục trẻ trong thời gian tới, ông vẫn tạo điều kiện thuận lợi hết sức có thể cho bà N thăm nuôi con. Việc bà N nói ông không tạo điều kiện thăm nuôi con và đánh đập bà là không đúng vì mỗi lần bà ngân sang nhà ông thăm con thường hay quậy phá không tôn trọng cuộc sống riêng của ông nên giữa hai bên mới xảy ra xô xát chứ ông không đánh bà N.
Tại phiên tòa hôm nay:
- Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
- Bị đơn: Yêu cầu được trực tiếp nuôi con theo Bản án số 897/2022/HNGĐ-ST ngày 28/6/2022, không yêu cầu bà N cấp dưỡng nuôi con.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu:
- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý và tại phiên tòa hôm nay, thẩm phán, hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy trình tố tụng giải quyết vụ án. Những người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định pháp luật.
- Về nội dung vụ án: Xét thấy căn cứ Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của bị đơn: Giao con chung cho ông A trực tiếp nuôi dưỡng, tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con đối với bà N khi có yêu cầu. Án phí hôn nhân sơ thẩm do nguyên đơn chịu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và xét yêu cầu của nguyên đơn được trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy đây là vụ án Hôn nhân gia đình về việc: “Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do bị đơn cư ngụ tại Quận V (nay là phường V) nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7 – Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vụ án thuộc trường hợp Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa theo khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng:
Theo Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ số 2248 ngày 24/7/2025 của hội liên hiệp phụ nữ Ủy ban nhân dân phường V, Thành phố Hồ Chí Minh: “Qua xác minh trẻ Trần Minh Đ hiện đang ở với cha là ông Trần Công A chưa ghi nhận bất kỳ thông tin phản ánh nào”.
Về yêu cầu đương sự:
Căn cứ vào giấy khai sinh số 269 của Ủy ban nhân dân quận V (nay là phường V), Thành phố Hồ Chí Minh đăng ký ngày 06/7/2018 cho trẻ Trần Minh Đ sinh ngày 29/6/2018. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định trẻ Trần Minh Đức là con chung của bà Nguyễn Thị N và ông Trần Công A.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, cả bà N và ông A đều yêu cầu được quyền nuôi dưỡng con chung.
Bà Nguyễn Thị N và ông Trần Công A đã được Tòa án giải thích về quyền và nghĩa vụ giao nộp các tài liệu chứng cứ để chứng minh bà N và ông A có điều kiện nuôi con.
Xét các chứng cứ trong hồ sơ thể hiện bà N: có cung cấp bản sao Sao kê tài khoản thu nhập cá nhân, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở địa chỉ: đường L, phường C, Thành phố T, tỉnh T do bà N đứng tên sở hữu (được tặng cho); Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh mà hiện nay bà N là chủ hộ kinh doanh; Văn bản xác nhận số dư tiền gửi tiết kiệm; và các hình ảnh có liên quan; USB...
Ông A cung cấp: Bản sao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ở địa chỉ 472/25/8 T, quận V (nay là phường V), Thành phố Hồ Chí Minh do ông A đứng tên sở hữu; Hóa đơn giá trị gia tăng, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh; tin nhắn zalo; USB; Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp do ông A là Chủ tịch hội đồng thành viên cho thấy ông A có đủ điều kiện để trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con.
Xét thấy, bà Nguyễn Thị N và ông Trần Công A đều có đủ điều kiện để trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung là trẻ Trần Minh Đ, sinh ngày 29/6/2018. Hiện nay trẻ đang ở cùng ông A khỏe mạnh và phát triển bình thường, ngoài ra bà N không đưa ra được tài liệu cụ thể nào thể hiện công việc, thu nhập và tài sản của ông A cũng như tài liệu, chứng cứ chứng minh ông A không còn đủ điều kiện trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc và giáo dục con. Mặt khác, do trẻ Trần Minh Đ đến nay đã được 07 tuổi trẻ có nguyện vọng được ở cùng với ông Trần Công A. Do đó cần xem xét nguyện vọng của trẻ cũng như để đảm bảo việc phát triển tâm sinh lý ổn định cho trẻ Trần Minh Đ thì cần thiết phải giao cho bố là ông A trực tiếp nuôi dưỡng là đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Từ phân tích trên Hội đồng xét xử xét thấy, việc giao con chung cho cha hay mẹ trực tiếp nuôi dưỡng đều căn cứ vào việc đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của trẻ cũng như nguyện vọng của trẻ. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Về cấp dưỡng nuôi con, ông A không yêu cầu bà N cấp dưỡng nuôi con vì ông có khả năng và không yêu cầu nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Bà Nguyễn Thị N chịu án phí dân sự dân sự sơ thẩm số tiền là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 266, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Luật thi hành án dân sự;
Căn cứ vào Luật phí và lệ phí số 87/2015/QH13 ngày 25/11/2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội.
Xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N
Về con chung: Giao con chung tên Trần Minh Đ, sinh ngày 29/6/2018 cho ông Trần Công A trực tiếp nuôi dưỡng.
Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với bà N khi có yêu cầu.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng quyền thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Bà Nguyễn Thị N chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà N đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai số 0057894 ngày 12/05/2025 của Chi cục thi hành án dân sự Quận V, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh).
2. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND Tp HCM; - VKSND khu vực 7 - TpHCM; - Cơ quan THA; - Các đương sự; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Quỳnh Trang |