- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Nguyễn Thị Huỳnh Nh ly hôn với ông Lý H."
- Tòa quyết gì? Chấp nhậnyêu cầu khởi kiện củabà Nguyễn Thị Huỳnh N đối với ông Lý H.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 675/2022/HNGĐ-ST Ngày: 02 - 6 - 2022 V/v tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Liên Quân.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm.
2. Ông Huỳnh Văn Sơn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hà Kim Thông - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 02 tháng 6 năm 2022, tại Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 375/2021/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 4 năm 2022 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 4 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 73/2022/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Huỳnh N, sinh năm 1994. (vắng mặt).
Địa chỉ: 116/15/4/3A khu phố 3, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh
2. Bị đơn: Ông Lý H, sinh năm 1990. (vắng mặt)
Địa chỉ: 45/6 ấp V, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 18/3/2021, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Huỳnh N trình bày:
Sau một thời gian tìm hiểu, bà Nguyễn Thị Huỳnh N và ông Lý H đã tự nguyện tiến đến hôn nhân 2012,đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Trung Chánh, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh năm 2013.
Vợ chồng có thời gian đầu chung sống hạnh phúc, đến cuối năm 2013 vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau, thường xuyên cải nhau, bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2015 đến nay. Bà Nguyễn Thị Huỳnh N nhận thấy tình cảm vợ chồng đã lạnh nhạt, không còn yêu thương tôn trọng nhau, không thể hàn gắn trở về chung sống với nhau được. Do đó, bà Nguyễn Thị Huỳnh N yêu cầu được ly hôn với ông Lý H.
Về con chung: Trong thời gian chung sống, bà Nguyễn Thị Huỳnh N và ông Lý H có 01 con chung tên Lý Tú N, sinh ngày 02/7/2013. Sau khi ly hôn, bà Nguyễn Thị Huỳnh N yêu cầu giao con chung cho ông Lý H trực tiếp muôi dưỡng, chăm sóc; bà Nguyễn Thị Huỳnh N không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để vợ chồng hàn gắn, đoàn tụ trở về chung sống với nhau nhưng chỉ có nguyên đơn bà Nguyễn Thị Huỳnh N có mặt theo triệu tập của Tòa án, ông Lý H vắng mặt không lý do và bà N có đơn yêu cầu không tiếp tục tổ chức hòa giải nên vụ kiện không tiến hành hòa giải được. Vì vậy, vụ án được đưa ra xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự để Hội đồng xét xử xem xét quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÕA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp: giữa bà Nguyễn Thị Huỳnh N và ông Lý H là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; bị đơn cư trú tại huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh nên Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã niêm yết và tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý, Giấy triệu tập, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông Lý H vắng mặt không lý do và bà Nguyễn Thị Huỳnh N có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Huỳnh N và ông Lý H tự nguyện tiến đến hôn nhân. Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn số 18 do Ủy ban nhân dân xã Trung Chánh, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 27/02/2013, đủ cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Huỳnh N và ông Lý H là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.
[4] Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn: Trong quá trình tố tụng, bị đơn không đến Tòa án để trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn. Như vậy, bị đơn đã từ bỏ quyền chứng minh của mình theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử chỉ xem xét yêu cầu của nguyên đơn dựa trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp theo quy định của pháp luật.
Theo đơn khởi kiện bà Nguyễn Thị Huỳnh N xác định đời sống hôn nhân giữa bà Như và ông Hùng phát sinh nhiều mâu thuẫn do vợ chồng không hợp nhau, thường xuyên cải nhau, bất đồng quan điểm sống và bà Như, ông Hùng đã ly thân từ năm 2015 đến nay. Trong thời gian sống ly thân vợ chồng không còn quan tâm đến nhau, mặc ai nấy sống và tự lo cho bản thân.
Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình quy định:
“1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.
2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác.”
Áp dụng điều luật được viện dẫn nêu trên cho thấy, vợ chồng bà N và ông H đã trải qua thời gian dài không chung sống với nhau, không còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc, quan tâm đến nhau và mỗi người đều có cuộc sống riêng của mình dẫn đến đời sống chung của vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về con chung: Trong thời gian chung sống, bà Nguyễn Thị Huỳnh N và ông Lý H có 01 con chung tên Lý Tú N, sinh ngày 02/7/2013. Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, bà N yêu cầu giao con chung cho ông H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng vì hiện cháu N đang do ông H trực tiếp chăm sóc và bà N không cấp dưỡng nuôi con. Tại bản tự khai ngày 15/5/2022 của cháu N xác định có nguyện vọng sống chung với ông H sau khi bà N và ông H ly hôn. Từ đó, để đảm bảo không xáo trộn cuộc sống hiện tạicần giao cháu Lý Tú N cho ông Lý H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi là phù hợp với quy định của pháp luật và nguyện vọng của cháu N; việc cấp dưỡng nuôi con chung, chưa đặt ra xem xét.
[6] Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 48, Điều 147, Điều 203, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 264, Điều 266 và Điều2 67 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 19, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhậnyêu cầu khởi kiện củabà Nguyễn Thị Huỳnh N đối với ông Lý H.
2. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Huỳnh N được ly hôn với ông Lý H.
3. Về con chung: Bà Nguyễn Thị Huỳnh N và ông Lý H có 01 con chung tên Lý Tú N, sinh ngày 02/7/2013. Giao cháu Lý Tú N cho ông Lý H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu N trưởng thành đủ 18 tuổi.
Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với bà Nguyễn Thị Huỳnh N cho đến khi ông Lý H có đơn yêu cầu.
Vì lợi ích con chung, khi cần thiết các bên được quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con; không bên nào được quyền ngăn cản việc thăm nom chăm sóc và giáo dục con chung.
4. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
5. Về án phí:
Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà Nguyễn Thị Huỳnh N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Ngày 13/4/2021, bà Nguyễn Thị Huỳnh N đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số AA/2019/0074885 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn được đối trừ.
Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND TP.Hồ Chí Minh; - VKSND huyện Hóc Môn; - Chi cục THADS huyện Hóc Môn; - UBND xã Trung Chánh, huyện Hóc Môn; - Các đương sự; - Lưu: VP, hồ sơ. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÕA Nguyễn Liên Quân |