vanban.org

Bản án 674/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Trần Mộng Đ và ông Nguyễn Thanh T. Về con chung và nuôi con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Mộng Đ - Nguyễn Thanh T, Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÓC MÔN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 674/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 21/6/2019
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÕA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Huy.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Kim Liên.

2. Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Công Danh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Tp.Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Tp.Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Mai Hương – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 922/2018/TLST–HNGĐ ngày 14/8/2018 về “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 25/04/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 62/2019/QĐST-HNGĐ ngày 24/5/2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trần Mộng Đ, sinh năm 1976; Thường trú: 31/3A ấp T, xã B, huyện Hóc Môn, Tp.Hồ Chí Minh; Chỗ ở: 51/3A ấp Đ, xã B, huyện Hóc Môn, Tp.Hồ Chí Minh (xin vắng mặt).

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1974; Địa chỉ: 31/3A ấp T, xã B, huyện Hóc Môn, Tp.Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 06/7/2018 và trong quá trình giải quyết vụ án,nguyên đơn là bà Trần Mộng Đ trình bày:

Bà Đ và ông Nguyễn Thanh T tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2007, được Ủy ban nhân dân xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn, Tp.Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 342, quyển số 02/2007 ngày 31/12/2007.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống cùng gia đình chồng đến năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn, do ông T không lo làm ăn, không có trách nhiệm với vợ con. Bà và con đã về nhà mẹ ruột sinh sống từ năm 2012, vợ chồng sống ly thân đến nay, không quan tâm đến nhau. Do vợ chồng sống ly thân, bỏ mặc nhau nhiều năm nên tình cảm không còn. Vì vậy, xin được ly hôn với ông T. Bà và ông T có 01 con chung là Nguyễn Anh K, sinh ngày 24/9/2008. Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung.

Bị đơn là ông Nguyễn Thanh T được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án nhưng vắng mặt không lý do.

Tại phiên tòa:

Phát biểu ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Tòa án, Hội đồng xét xử, các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự ở giai đoạn sơ thẩm nhưng Tòa án chưa thực hiện đúng về thời hạn chuyển bị xét xử. Về việc giải quyết vụ án: Mâu thuẫn vợ chồng giữa bà Đ và ông T xảy ra và sống ly thân từ năm 2012 nhưng các bên bỏ mặc nhau, không có thiện chí hàn gắn đoàn tụ, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng; con chung do nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc hàng ngày. Vì vậy, có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÕA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn; Các đương sự đang cư trú tại huyện Hóc Môn. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, xác định đây là tranh chấp ly hôn và thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Hóc Môn.

[2] Về sự vắng mặt của các đương sự: Bị đơn ông T đã được tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2019/QĐXXST-HNGĐ kèm Giấy triệu tập số 186/GTT ngày 25/4/2019, Quyết định hoãn phiên tòa số 62/2019/QĐST-HNGĐ kèm Giấy triệu tập số 237/GTT ngày 24/5/2019 nhưng vắng mặt không có lý do. Nguyên đơn bà Đ có đơn xin vắng mặt. Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 342, quyển số 02/201 do Ủy ban nhân dân xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn, Tp.Hồ Chí Minh cấp ngày 31/12/2007, xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Đ và ông T là hợp pháp, quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

[4] Về yêu cầu ly hôn: Theo trình bày của bà Đ thì mâu thuẫn vợ chồng xảy ra và sống ly thân từ năm 2012 đến nay nhưng vợ chồng vẫn bỏ mặc, không quan tâm, chăm sóc, không liên lạc qua lại với nhau. Phía bị đơn là ông Nguyễn Thanh T đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án trong suốt quá trình giải quyết vụ án nhưng không có ý kiến phản hồi. Vì vậy, mặc dù chính quyền địa phương không nắm rõ mâu thuẫn vợ chồng tại nơi cư trú theo biên bản xác minh ngày 08/3/2019 nhưng quá trình giải quyết vụ án, có cơ sở xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa bà Đ và ông T là có thật, đã kéo dài, vợ chồng sống ly thân từ 2012 đến nay nhưng bỏ mặc nhau, không ai có thiện chí hàn gắn, đoàn tụ làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu ly hôn của bà Đ là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[5] Về con chung, nuôi con chung và cấp dưỡng: Căn cứ Giấy khai sinh số 641, quyển số 03/2008 ngày 29/9/2008 của Ủy ban nhân dân xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn và lời khai của bà Đ, có căn cứ xác định bà Đ và ông T có 01 con chung là Nguyễn Anh K, sinh ngày 24/9/2008. Bà Đ yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung do từ trước đến nay bà là người trực tiếp chăm lo cho con chung hàng ngày, ông T không có ý kiến phản hồi. Tại bản tự khai ngày 05/9/2018, trẻ K mong muốn được ở với bà Đ. Như vậy, việc giao con chung cho bà Đ trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với thực tế, phù hợp với nguyện vọng của con chung, phù hợp với quy định tại Điều 81của Luật Hôn nhân và Gia đình. Ghi nhận việc bà Đ tự nguyện không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

[6] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[7] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Đ phải chịu theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 238; Khoản 4 Điều 147; Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

- Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Trần Mộng Đ và ông Nguyễn Thanh T.

- Về con chung và nuôi con chung:

+ Giao cho bà Trần Mộng Đ trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Anh K, sinh ngày 24 tháng 9 năm 2008;

+ Tạm ngừng nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với ông Nguyễn Thanh T cho đến khi có yêu cầu của bà Trần Mộng Đ.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Khi cần thiết, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc quyết định mức cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Bà Trần Mộng Đ trình bày không có.

- Về nợ chung: Bà Trần Mộng Đ trình bày không có.

2. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Mộng Đ phải chịu tiền án phí sơ thẩm là 300.000 đồng, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0004640 ngày 14/8/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hóc Môn. Bà Trần Mộng Đ đã nộp đủ tiền án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự .

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ