- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Minh C - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| !!!TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN! THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH Bản án số: 674/2017/HSPT Ngày: 19/12/2017 |
NHÂN!DANH!
NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!
Với!thành!phần!Hội!đồng!xét!xử!phúc!thẩm!gồm!có:!
Thẩm"phán"–"Chủ"tọa"phiên"tòa: Bà Nguyễn Thị Hà
Các"Thẩm"phán:
1/ Ông Vũ Thanh Lâm
2/ Ông Huỳnh Văn Trực
Thư"ký"ghi"biên"bản"phiên"tòa: Bà Hà Quỳnh Nga – Cán bộ Tòa án nhân
dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại" diện" Viện" kiểm" sát" nhân" dân" Thành" phố" Hồ" Chí" Minh" tham" gia"
phiên"tòa: Bà Lê Thị Hạnh Giang – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 12 năm 2017, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ
Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 560/2017/HSPT ngày
12/10/2017, thông báo về việc mở phiên tòa xét xử phúc thẩm ngày
22/11/2017 đối với bị cáo Nguyễn Minh C. Do có kháng cáo của bị cáo đối
với Bản án hình sự sơ thẩm số 142/2017/HSST ngày 31/8/2017 của Tòa án
nhân dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị"cáo"có"kháng"cáo:"
Nguyễn!Minh!C; giới tính: Nam; sinh năm 1980 tại Thành phố Hồ Chí
Minh; trú tại: 01 Cư xá BM, đường D, Phường E Quận F, Thành phố Hồ Chí
Minh; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Cơ khí; trình độ văn hóa: 7/12; con
ông Nguyễn Văn Đ và bà Phạm Thị Q; hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ, con;
tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam ngày 01/4/2017. (Có mặt)
NHẬN!THẤY:"
Theo bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Quận A và Bản án hình
sự sơ thẩm của Toà án nhân dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh thì nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 03 giờ 30 phút ngày 01/4/2017, tại trước nhà số 352 đường L,
phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh,trinh sát Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an Quận A phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Minh C đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để bán cho người khác, thu giữ bên trong nắp bình xăng xe máy biển số 54L3-023.XX do C điều khiển 01 gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu, nghi là ma túy tổng hợp.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Minh C khai nhận: C nghiện ma túy
khoảng 05 tháng nay. Để có tiền sử dụng ma túy, C mua ma túy về bán lại cho người nghiện kiếm lời. Vào khoảng 01 giờ 00 phút ngày 01/4/2017, C nhận được cuộc gọi của một người phụ nữ (không rõ lai lịch) từ số điện thoại 0901.146.abc hỏi mua 01 gói ma túy. C đồng ý và điều khiển xe máy biển số 54L3-23XX đến khu vực chợ cá I, huyện N mua 01 gói ma túy của người thanh niên (không rõ lai lịch) với giá 40.000.000 đồng. Sau đó, C cất giữ bên trong nắp bình xăng xe máy của mình mang về Quận A định bán cho người phụ nữ với giá 43.000.000 đồng. Trên đường về, khi đến trước nhà số 352 đường L, phường H, Quận A thì bị Công an Quận A kiểm tra, bắt quả tang cùng tang vật. Trước đó, C có mua ma túy của người thanh niên trên 01 gói ma túy với giá 21.000.000 đồng, bán cho người thanh niên (không rõ lai lịch) ở Quận K với giá 24.000.000 đồng, thu lợi 3.000.000 đồng.
Theo Kết luận giám định số 722/KLGĐ-H ngày 10/4/2017 của Phòng Kỹ
thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon được niêm phong có chữ ký ghi tên Nguyễn Minh C và hình dấu Công an phường H, Quận A gửi đến giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 99,6361g loại Methamphetamine.
Tại Bản cáo trạng số 156/Ctr-Viện kiểm sát nhân dân ngày 07/8/2017
của Viện kiểm sát nhân dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Minh C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm m khoản 2 Điều 194 của Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 142/2017/HSST ngày 31/8/2017 của Tòa
án nhân dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh đã nhận định Nguyễn Minh C đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để bán lại cho người khác với số lượng lớn, thu giữ 99,6361g loại Methamphetamine. Từ đó, tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh C phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” và áp dụng điểm m khoản 2, 5 Điều 194, điểm b khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo C 12 (mười hai) năm tù. Đồng thời, án sơ thẩm tuyên buộc bị cáo nộp phạt
số tiền 10.000.000 đồng và nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 3.000.000 đồng
để sung công quỹ Nhà nước. Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật
chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 13/9/2017, bị cáo Nguyễn Minh C kháng cáo xin giảm nhẹ hình
phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Nguyễn Minh C thừa nhận hành vi phạm tội của mình như án sơ
thẩm đã tuyên, đồng thời giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt
và có đưa ra được tình tiết bị cáo đã thi hành một phần bản án hình sơ thẩm thẩm
số 142/2017/HSST ngày 31/8/2017 của Tòa án nhân dân Quận A là nộp lại số
tiền thu lợi bất chính là 3.000.000 đồng và nộp phạt 10.000.000 đồng để sung
công quỹ Nhà nước nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội
đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo vì bị cáo có thêm
tình tiết giảm nhẹ.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc
thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ,
toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên.
XÉT!THẤY:!
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Minh C đã khai nhận toàn bộ
hành vi phạm tội của mình như án sơ thẩm đã tuyên, lời khai nhận tội của bị
cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 01/4/2017 (bút lục
19) và phù hợp với các căn cứ khác có trong hồ sơ. Từ đó, xác định được:
Khoảng 03 giờ 30 phút ngày 01/4/2017 tại trước nhà số 352 đường L, phường H,
Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Minh C đã có hành vi tàng trữ trái
phép chất ma túy để bán cho người khác thì bị bắt quả tang, thu giữ bên trong
nắp bình xăng xe máy do C điều khiển 01 gói nylon bên trong chứa tinh thể
không màu, qua giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 99,6361g loại
Methamphetamine. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái
phép chất ma túy” thuộc trường hợp mua bán “các chất ma túy khác ở thể rắn
có trọng lượng từ hai mươi gam đến dưới một trăm gam” được quy định tại
điểm m khoản 2 Điều 194 của Bộ luật Hình sự. Bản án hình sự sơ thẩm số
142/2017/HSST ngày 31/8/2017 của Tòa án nhân dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử bị cáo C về tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Xét đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Minh C làm trong thời hạn luật
định là hợp lệ nên thuộc trường hợp được xem xét tại cấp phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Minh C xin giảm nhẹ hình phạt
với lý do bị cáo đã nộp tiền thu lợi bất chính và tiền phạt bổ sung, tổng cộng là 13.000.000 đồng như án sơ thẩm đã tuyên buộc. Xét bị cáo thành khẩn khai báo, tự khai ra hành vi mua bán ma túy và tự khai ra số tiền thu lợi bất chính, tự thi hành một phần bản án sơ thẩm là nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 3.000.000 đồng và nộp phạt 10.000.000 đồng, tổng cộng là 13.000.000 đồng để sung công quỹ Nhà nước theo Biên lai thu số AA/2017/0048423 ngày 19/12/2017 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự cần áp dụng thêm cho bị cáo để giảm nhẹ một phần hình phạt.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét lại.
Vì"các"lẽ"trên,"
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 248 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
QUYẾT!ĐỊNH:!
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn!Minh!C, sửa bản án sơ thẩm.
Tuyên bố bị cáo!Nguyễn!Minh!C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma
túy”.
Áp dụng điểm m khoản 2 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46
của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn!Minh!C 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời
hạn tù tính từ ngày 01/4/2017.
Ghi nhận bị cáo Nguyễn Minh C đã nộp tiền thu lợi bất chính là
3.000.000 (ba triệu) đồng và tiền phạt là 10.000.000 (mười triệu) đồng như quyết định của Bản án sơ thẩm số 142/2017/HSST ngày 31/8/2017 của Tòa án nhân dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh theo Biên lai thu số AA/2017/0048423 ngày 19/12/2017 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày
hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận:!! ! !!!!!!! - TAND Tối cao; (1) - TAND Cấp cao tại TP.HCM; (1) - VKSND TP.HCM; (1) - VKSND Quận A; (1) - P.PC 53 - CATP; (1) - Bị cáo; (1) - Trại giam; (1) - Chi cục THA Quận A; (1) - TAND Quận A; (1) - Công an Quận A; (1) - Sở Tư pháp; (1) - UBND nơi bị cáo cư trú; (1) - Lưu: VT, THS, hồ sơ; (22) (6) ! !!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!! | !!!!TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!PHÚC!THẨM! !!!THẨM!PHÁN!-!CHỦ!TỌA!PHIÊN!TÒA! ! ! ! ! ! !!!!!Nguyễn!Thị!Hà! ! ! ! ! ! ! ! |