- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thúy L.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 673/2018/HNGĐ-ST Ngày 27 - 11 - 2018 V/v tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Cơ Dũng Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Vũ Thị Thân 2. Bà Nguyễn Thị Như Sương
- Thư ký phiên tòa: Bà Vương Thanh Ngọc
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 tham gia phiên tòa: Bà Trương Võ Thùy Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11 (số 172 Ông Ích Khiêm, Phường 5, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh) xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 380/2018/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 7 năm 2018 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 151/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 127/2018/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 11 năm 2018 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thúy L, sinh năm 1978; địa chỉ: x Đường 3/2, Phường x, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh. Tạm trú: xx Lạc Long Quân, Phường x, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh; (có mặt);
2. Bị đơn: Ông Lê T, sinh năm 1967; địa chỉ: x Đường 3/2, Phường x, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh. Địa chỉ liên lạc: x đường Tống Văn Trân, Phường x, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh; (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, các biên bản hòa giải và trong quá trình xét xử, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Thúy L trình bày:
Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thúy L và ông Lê T tự quen biết, tìm hiểu rồi tiến đến hôn nhân. Vợ chồng chung sống có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 66/2000, Quyển số 01 do Ủy ban nhân dân xã xx, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng cấp ngày 11/9/2000. Giữa bà với ông T phát sinh mâu thuẫn khoảng hơn ba năm nay do quan điểm sống khác biệt nhau dẫn đến vợ chồng thường hay tranh cãi nhau. Ông T không quan tâm, chăm sóc vợ con. Khi xảy ra mâu thuẫn tranh cãi thì ông T đuổi bà và con ra khỏi nhà. Bà L đã dẫn con đi ra ngoài thuê nhà để sống riêng. Hai bên đã sống ly thân gần một năm nay. Bà L xác định không còn tình cảm vợ chồng với ông T nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn để rõ ràng về mặt pháp lý.
Về con chung: Bà Nguyễn Thị Thúy L và ông Lê T có với nhau một con chung là trẻ Lê Thúy Q (nữ, sinh ngày 14/7/2007). Bà L đề nghị Tòa án giải quyết giao con chung cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng. Bà L không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung và các vấn đề khác: Không có.
Tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị Thúy L vẫn giữ nguyên các ý kiến đã trình bày như đã nêu trên.
Tại bản tự khai, các biên bản hòa giải, bị đơn là ông Lê T trình bày:
Về hôn nhân: Ông Lê T thừa nhận quen biết bà Nguyễn Thị Thúy L, hai bên tự tìm hiểu một năm thì tiến đến kết hôn, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 66/2000, Quyển số 01 do Ủy ban nhân dân xã xx, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng cấp ngày 11/9/2000. Ông T thừa nhận giữa hai vợ chồng có phát sinh mẫu thuẫn từ năm 2017 đến nay. Hai bên thường xuyên tranh cãi nhau do bất đồng quan điểm sống. Ông T xác nhận hai vợ chồng đã sống ly thân gần một năm nay. Tuy nhiên ông T xác định vẫn còn thương yêu vợ con nên việc bà L xin ly hôn thì ông không thống nhất. Ông T không đồng ý ly hôn.
Về con chung: Ông Lê T xác nhận giữa ông và bà Nguyễn Thị Thúy L chung sống có với nhau một con chung là trẻ Lê Thúy Q (nữ, sinh ngày 14/7/2007). Ông T trình bày nếu bà L cương quyết xin ly hôn thì ông đồng ý giao trẻ Q cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung và các vấn đề khác: Không có.
Tại phiên tòa, ông Lê T vắng mặt nên không có lời trình bày bổ sung.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau:
- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng; các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng, Tòa án nhân dân Quận 11 nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Bà Nguyễn Thị Thúy L khở i kiê ̣n đối với ông Lê T, yêu cầu giải quyết ly hôn; ông Lê T cư trú tại Quâ ̣n 11, Thành phố Hồ Chi Minh. Căn cứ khoản 1 Điều
́ 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp về ly hôn” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.
Về thủ tục tố tụng:
Bị đơn – ông Lê T đăng ký hộ khẩu thường trú tại số nhà x Đường 3/2, Phường x, Quận 11, Thành phố Hồ Chi Minh. Tại Biên bản hòa giải và Biên bản về
́
kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 02/10/2018, ông T đề nghị Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng cho ông T theo địa chỉ 49 Tống Văn Trân, Phường 5, Quận 11. Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập và quyết định đưa vụ án ra xét xử hợp lệ lần thứ nhất cho đương sự nhưng tại ngày mở phiên tòa 06/11/2018 đương sự vắng mặt. Tòa án tiếp tục tống đạt giấy triệu tập hợp lệ lần thứ hai cho đương sự nhưng tại ngày mở phiên tòa hôm nay đương sự vẫn vắng mặt. Do vậy, việc xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử.
Xét yêu cầu của đương sự:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – bà Nguyễn Thị Thúy L:
Về hôn nhân:
Bà Nguyễn Thị Thúy L và ông Lê T là vợ chồng chung sống có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 66/2000, Quyển số 01 do Ủy ban nhân dân xã xx, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng cấp ngày 11/9/2000. Đây là hôn nhân hợp pháp.
Trong quá trình chung sống, giữa bà Nguyễn Thị Thúy L và ông Lê T phát sinh mâu thuẫn do quan điểm sống khác biệt nhau, hai bên thường xuyên tranh cãi nhau. Ông T không lo lắng cho vợ con, đuổi bà L và con ra khỏi nhà. Hai bên đã không còn chung sống với nhau, đã ly thân từ năm 2017. Bà Nguyễn Thị Thúy L xác định không còn tình cảm vợ chồng với ông T nên đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn. Lời khai của bà Nguyễn Thị Thúy L được ông Lê T thừa nhận. Do vậy, có cơ sở để xác định mâu thuẫn giữa bà Nguyễn Thị Thúy L và ông Lê T là trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về con chung:
Ông Lê T và bà Nguyễn Thị Thúy L chung sống, có với nhau một người con chung là trẻ Lê Thúy Q (nữ, sinh ngày 14/7/2007). Bà L đề nghị Tòa án giải quyết giao con chung cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng. Bà L không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung. Ông T thống nhất ý kiến với bà L về việc giao con chung cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng. Đồng thời, tại biên bản ghi lời khai của trẻ Lê Thúy Q ngày 25/7/2018 thì trẻ Q khai có nguyện vọng xin được sinh sống cùng với mẹ. Căn cứ Điều 81 và Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Thúy L, giao trẻ Lê Thúy Q cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng; ghi nhận sự tự nguyện của bà L không yêu cầu ông Lê T cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung:
Đương sự Nguyễn Thị Thúy L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung:
Đương sự Nguyễn Thị Thúy L khai vợ chồng không có nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Xét yêu cầu của bị đơn – ông Lê T:
Về hôn nhân:
Ông Lê T khai giữa hai vợ chồng thường xuyên tranh cãi nhau do bất đồng quan điểm sống. Ông T xác nhận vợ chồng đã sống ly thân gần một năm nay. Tuy nhiên ông T khai là vẫn còn thương yêu vợ con nên việc bà L xin ly hôn thì ông không thống nhất. Ông T không đồng ý ly hôn. Xét thấy ông T và bà L thường xuyên tranh cãi nhau; hai bên đã sống ly thân gần một năm nhưng ông T không chủ động hòa giải với bà L để hai bên trở về chung sống đoàn tụ nên việc ông T khai là vẫn còn thương yêu vợ con là không có cơ sở; lời trình bày và yêu cầu hòa giải đoàn tụ của ông T không được bà L chấp nhận nên Hội đồng xét xử không chấp nhận ý kiến của ông Lê T về việc không đồng ý ly hôn với bà Nguyễn Thị Thúy L.
Về con chung:
Ông Lê T và bà Nguyễn Thị Thúy L chung sống, có với nhau một người con chung là trẻ Lê Thúy Q (nữ, sinh ngày 14/7/2007). Bà L đề nghị Tòa án giải quyết giao con chung cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng. Bà L không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung. Ông T thống nhất ý kiến với bà L về việc giao con chung cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến của ông Lê T về việc giao trẻ Lê Thúy Q cho bà Nguyễn Thị Thúy L trực tiếp nuôi dưỡng.
Về tài sản chung:
Quá trình giải quyết vụ án, ông Lê T khai không có tài sản chung; không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung và các vấn đề khác:
Quá trình giải quyết vụ án, ông Lê T khai không có nợ chung; không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Xét ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân Quận 11:
Đại diện Viện kiểm sát kiến nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí:
Bà Nguyễn Thị Thúy L phải chịu án phi hôn nhân gia đinh sơ thẩm là
́
̀ 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu ta ̣m ứ ng án phi, lê ̣ phi
́
́ Tòa án số AA/2016/0008983 ngày 12/7/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thúy L.
1. Về quan hệ hôn nhân:
Bà Nguyễn Thị Thúy L được ly hôn với ông Lê T.
Giấy chứng nhận kết hôn số 66/2000, Quyển số 01 do Ủy ban nhân dân xã xx, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng cấp ngày 11/9/2000 không còn giá trị pháp lý.
2. Về con chung:
Ông Lê T và bà Nguyễn Thị Thúy L chung sống có với nhau một người con chung là trẻ Lê Thúy Q (nữ, sinh ngày 14/7/2007). Giao trẻ Lê Thúy Q cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng; ghi nhận sự tự nguyện của bà L không yêu cầu ông Lê T cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông Lê T được quyền thăm nom con, không ai được cản trở ông T thực hiện quyền này. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con hoặc theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
3. Về tài sản chung:
Không có; không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về nợ chung và các vấn đề khác:
Không có; không yêu cầu Tòa án giải quyết.
5. Về án phí:
Bà Nguyễn Thị Thúy L phải chịu án phi hôn nhân gia đinh sơ thẩm là
́
̀ 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu ta ̣m ứ ng án phi, lê ̣ phi
́
́ Tòa án số AA/2016/0008983 ngày 12/7/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Nguyễn Thị Thúy L đã nộp đủ tiền án phí.
6. Các quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự được thực hiện tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Trườ ng hợp quyết đi ̣nh được thi hành theo Điều 2 Luâ ̣t Thi hành án dân sự thi ngườ i được thi hành án dân sự, ngườ i phải thi hành án dân sự có quyền thỏa ̀ thuâ ̣n thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyê ̣n thi hành án hoă ̣c bi ̣ cưỡng chế thi hành án theo quy đi ̣nh ta ̣i các Điều 6, 7 và 9 Luâ ̣t Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
7. Về quyền kháng cáo:
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - TAND TPHCM; - VKSND Quận 11; - Chi cục THADS Quận 11; - Các đương sự; - UBND xã xx, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Cơ Dũng |