- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
- Căn cứ chính? Luật Thi hành án dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 671/2023/HNGĐ-ST Ngày: 09-5-2023 V/v tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thị Thủy Tiên
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Thanh Mai.
2. Ông Nguyễn Thành Thông.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Nguyễn Ngọc Linh – Thư ký Tòa án nhân
dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa: Không tham gia.
Ngày 09 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ
Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 655/2022/TLST-HNGĐ
ngày 14 tháng 12 năm 2022 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án
ra xét xử số 1967/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 04 năm 2023, giữa
các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1960.
Địa chỉ: 106 A, khu phố B, phường C, thành phố D, Thành phố Hồ Chí
Minh.
- Bị đơn: Bà Bùi Thị X, sinh năm 1960; quốc tịch: Việt Nam.
Địa chỉ: 22 X Y Australia.
Các đương sự đã có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung của đơn khởi kiện ngày 29/11/2022 và những lời khai
trong quá trình tố tụng, nguyên đơn là ông Nguyễn Văn H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn H và bà Bùi Thị X kết hôn năm
1981, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, Quận E (nay là thành
phố D), Thành phố Hồ Chí Minh và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số
14/1981 ngày 07/12/1981. Sau khi kết hôn, bà Bùi Thị X qua Úc sinh sống và
làm việc, ông vẫn ở lại Việt Nam. Thời gian đầu giữa ông và bà X còn liên lạc để duy trì tình cảm vợ chồng đến năm 2010 thì không còn liên lạc. Do không có điều kiện gặp nhau để hàn gắn nên tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn không giải quyết được, khả năng đoàn tụ lại không có, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông đề nghị được ly hôn với bà Bùi Thị X để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Ông và bà Bùi Thị X có hai con chung Nguyễn Hữu P,
sinh 06/08/1982 và Nguyễn Ngọc H1, sinh 18/12/1984, đã trưởng thành.
Tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung: Không có.
Vì sức khỏe, ông yêu cầu được vắng mặt cho đến khi kết thúc vụ án.
Tại Bản tự khai đã được chứng nhận tại Tổng Lãnh sự quán nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Sydney, Australia ngày 24/02/2023 bị đơn bà Bùi Thị X xác nhận lời trình bày của ông Nguyễn Văn H về thời điểm kết hôn, về mâu thuẫn chung của vợ chồng, về con chung, tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung là đúng. Nay ông H xin ly hôn, bà đồng ý được ly hôn với ông H. Do điều kiện đi lại gặp nhiều khó khăn, bà yêu cầu được vắng mặt cho đến khi kết thúc vụ án.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt, Hội đồng xét xử
vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Ông Nguyễn Văn H và bà Bùi Thị X kết hôn trên cơ sở tự nguyện và
được Ủy ban nhân dân phường C, Quận E (nay là thành phố D), Thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận kết hôn. Căn cứ theo Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên có đủ cơ sở xác định hôn nhân giữa ông H và bà Bùi Thị X là hôn nhân hợp pháp.
Nguyên đơn cư trú tại Thành phố Hồ Chí Minh; Bị đơn hiện cư trú tại nước
ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35 và khoản 1 Điều 37 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng:
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án không tiến hành thu thập chứng cứ nên
vụ án thuộc trường hợp Viện kiểm sát không tham gia phiên tòa sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét bản tự khai của bà Bùi Thị X đã được chứng nhận Lãnh sự tại Tổng
Lãnh sự quán nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Sydney, Australia ngày 24/02/2023 nên được xem là chứng cứ hợp pháp của vụ án theo quy định tại Điều 94 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn và bị đơn có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt trong suốt quá
trình giải quyết, yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải nên vụ án thuộc trường
hợp không tiến hành hòa giải được quy định tại Khoản 4 Điều 207 của Bộ luật
Tố tụng dân sự; Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo
quy định tại khoản 1 Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Xét yêu cầu của ông Nguyễn Văn H được ly hôn bà Bùi Thị X. Hội
đồng xét xử xét thấy: Qua lời trình bày của ông H và bà X thì thực tế sau khi kết
hôn, thời gian đầu hạnh phúc về sau thì phát sinh mâu thuẫn về quan điểm, lối
sống và nuôi dạy con chung mà không thể giải quyết được. Bà X và ông H đã
không liên lạc để giải quyết mâu thuẫn, hàn gắn tình cảm vợ chồng từ năm 2010
đến nay. Hiện nay ông H và bà X đang sinh sống ở hai nước khác nhau nên khả
năng đoàn tụ không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, ông
Nguyễn Văn H yêu cầu được ly hôn với bà Bùi Thị X là phù hợp. Hội đồng xét
xử chấp nhận.
Về con chung: Ông Nguyễn Văn H và bà Bùi Thị X có hai con chung
Nguyễn Hữu P, sinh 06/08/1982 và Nguyễn Ngọc H1, sinh 18/12/1984, đã
trưởng thành.
Tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung: Không có.
Án phí sơ thẩm:
Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm ông Nguyễn Văn H phải chịu theo quy
định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Ông Nguyễn Văn H và bà Bùi Thị X có quyền
kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37, Điều 147,
Điều 228, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 51, Điều 56 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình
năm 2014;
Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn H.
Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn H được ly hôn bà Bùi Thị X.
Giấy chứng nhận kết hôn số 14/1981 do Ủy ban nhân dân phường C,
Quận E (nay là thành phố D), Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 07/12/1981 cho
ông Nguyễn Văn H và bà Bùi Thị X không còn giá trị pháp lý.
Về con chung: Ông Nguyễn Văn H và bà Bùi Thị X có hai con chung
Nguyễn Hữu P, sinh 06/08/1982 và Nguyễn Ngọc H1, sinh 18/12/1984, đã trưởng thành.
Tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung: Không có.
2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: 300.000 đồng (Ba trăm nghìn), ông
Nguyễn Văn H chịu và được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng mà ông H đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số AA/2021/0003689 ngày 12/12/2022 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Ông H đã nộp đủ tiền án phí.
3. Ông Nguyễn Văn H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ
ngày tống đạt hợp lệ bản án. Bà Bùi Thị X được quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ. Viện kiểm sát được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - TAND Tối cao; - TAND Cấp cao tại TP.HCM; - VKSND cấp cao tại TP.HCM; - VKSND TP.HCM; - Cục THADS TP.HCM; - Cơ quan đăng ký kết hôn; - Các đương sự; - Lưu: HS, VT.(Linh/14b) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Thị Thủy Tiên |