- Tranh chấp gì? án dân sự — "Tranh chấp Hợp đồng mua bán điện"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 20 Luật Điện lực
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 671/2018/DS-ST Ngày: 07-9-2018 V/v “Tranh chấp về hợp đồng mua bán điện” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12-THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Hữu Hạnh. Các Hội thẩm nhân dân dự khuyết: 1. Ông Võ Văn Tốt. 2. Ông Nguyễn Văn Quản.
- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Thế Chung – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Quyên - Kiểm sát viên. Ngày 07 tháng 9 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12 xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 826/2017/TLST-DS ngày 20 tháng 12 năm 2017 về tranh chấp về hợp đồng mua bán điện theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 226/2018/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 7 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 202/2018/QĐST-DS ngày 07/8/2018 giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Tổng công ty ĐL TNHH. Trụ sở: phường B, Quận P, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn T (có đơn xin vắng mặt). Địa chỉ: phường T, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh 2. Bị đơn: Ông Lương Văn D (vắng mặt). Địa chỉ: Khu phố N, phường H, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 11 tháng 12 năm 2017, bản tự khai, các biên bản không tiến hành hòa giải được, cùng các tài liệu chứng cứ kèm theo nguyên đơn Tổng công ty ĐL TNHH do ông Nguyễn Văn T làm đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 11/11/2016 Tổng công ty ĐL TNHH được đại diện bởi Chi nhánh Công ty Điện lực A ký hợp đồng bán điện cho bị đơn ông Lương Văn D với mục đích sinh hoạt, mã số hợp đồng 79761116061670, mã khách hàng PE16000305877, có hiệu lực kể từ ngày ký đến ngày 05/11/2020, địa chỉ mua điện là nhà Khu phố N, phường H, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, đến nay ông D còn nợ 02 (hai) kỳ điện chưa thanh toán: Kỳ 07/2017 (tháng 6/2017) số tiền 1.020.939đ, kỳ 08/2017 (tháng 07/2017) số tiền 165.935đ, tổng cộng 1.186.874đ. Nay nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền còn nợ là 1.186.874đ và không yêu cầu tính lãi.
Phía bị đơn ông Lương Văn D (vắng mặt):
Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ ông D đến tòa để làm việc nhưng không lần nào ông D có mặt và được biết ông D đã bỏ đi khỏi địa chỉ nhà khu phố N, phường H, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 6/2017 và hiện không rõ ở đâu theo kết quả xác minh ngày 17/5/2018 của Công an phường H thuộc trường hợp “cố tình giấu địa chỉ” theo quy định tại Điểm a, Khoản 2 Điều 6 của Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao về “Hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án” nên Tòa án vẫn tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung. Cụ thể tất cả những lần niêm yết đối với ông D như sau:
Ngày 17/01/2018 Tòa án đã niêm yết Thông báo thụ lý số: 826/TB-TLVA ngày 22/12/2017 và Giấy triệu tập đến Tòa tự khai ngày 30/01/2018.
Ngày 12/6/2018 Tòa án án đã niêm yết Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải (lần 1) ngày 12/6/2018 đến Tòa ngày 29/6/2018.
Ngày 02/7/2018 Tòa án án đã niêm yết Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải (lần 2) ngày 02/7/2018 đến Tòa ngày 18/7/2018.
Ngày 20/7/2018 Tòa án án đã niêm yết Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 226/2018/QĐXXST-DS ngày 20/7/2018.
Ngày 09/8/2018 Tòa án đã niêm yết Quyết định hoãn phiên tòa số 202/2018/QĐST-DS ngày 07/8/2018.
Tất cả những lần niêm yết trên ông D đều không đến Tòa án mà không rõ lý do.
Nguyên đơn cũng không bổ sung gì thêm.
Sau khi thụ lý hồ sơ vụ án, Tòa án đã tiến hành điều tra, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải và mở phiên tòa xét xử hôm nay.
Bị đơn ông Lương Văn D đã được Toà án triệu tập xét xử hợp lệ đến Toà nghe xử vào các ngày 07/8/2018 và ngày 07/9/2018 nhưng đều vắng mặt nên Toà án căn cứ Điểm b, Khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để xét xử vắng mặt ông D.
Ngày 20/7/2018 phía nguyên đơn do ông Nguyễn Văn T đại diện theo ủy quyền có làm đơn xin xét xử vắng mặt các phiên tòa đã được triệu tập do bận công việc nên Tòa án căn cứ Điểm a, Khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để xét xử vắng mặt ông T.
Ngày 20/7/2018 phía nguyên đơn do ông Nguyễn Văn T đại diện theo ủy quyền có làm đơn xin xét xử vắng mặt các phiên tòa đã được triệu tập do bận công việc nên Tòa án căn cứ Điểm a, Khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để xét xử vắng mặt ông T.
Hội thẩm nhân dân là ông Lê Minh Tâm và ông Nguyễn Văn Lợi đều hai lần vắng mặt do bận công tác nên có hội thẩm nhân dân dự khuyết là ông Võ Văn Tốt và ông Nguyễn Văn Quản tham gia xét xử thay theo quy định tại khoản 1 Điều 226 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả thảo luận của hội đồng xét xử, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Tòa án nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Các đương sự tranh chấp với nhau về việc yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán điện. Đây là tranh chấp về hợp đồng dân sự theo quy định tại Khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 22 của Luật Điện lực năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2012). Do bị đơn có nơi cư trú cuối cùng tại Quận 12 nên căn cứ vào Điểm a, Khoản 1 Điều 35 và Điểm a, Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
Về yêu cầu của các đương sự:
Xét yêu cầu của nguyên đơn Tổng công ty ĐL TNHH trên cơ sở căn cứ vào lời tự khai của đương sự, căn cứ các tài liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp, Hội đồng xét xử xét thấy: Có đủ cơ sở để khẳng định ngày 11/11/2016 Tổng công ty ĐL TNHH và ông Lương Văn D tự nguyện ký kết hợp đồng mua bán điện với mục đích sinh hoạt, mã số hợp đồng 79761116061670, mã khách hàng PE16000305877 tại địa chỉ nhà khu phố N, phường H, Quận B là có thật. Cho nên, Hội đồng xét xử xác định hợp đồng này có giá trị pháp lý theo quy định của pháp luật.
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa công bố bị đơn vắng mặt thuộc trường hợp “cố tình giấu địa chỉ”, nguyên đơn có làm đơn xin xét xử vắng mặt. Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa tiếp tục công bố tóm tắt nội dung vụ án, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Xét thấy yêu cầu và phạm vi khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn trả số tiền còn nợ của hợp đồng mua bán điện tổng cộng 1.186.874đ và không yêu cầu tính lãi, là có căn cứ, không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội Hội đồng xét xử nghĩ nên chấp nhận.
Về án phí sơ thẩm: 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) ông Lương Văn D phải nộp.
Riêng đối với bị đơn ông Lương Văn D, Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ ông để đến Tòa làm việc và trình bày ý kiến của mình nhưng ông đã không lần nào đến Tòa án và cố tình trốn tránh, giấu địa chỉ. Qua đó, cho thấy bị đơn ông Lương Văn D không chấp hành pháp luật, không hợp tác với Tòa án để giải quyết vụ việc hợp đồng mua bán điện với nguyên đơn Tổng công ty ĐL TNHH làm quá trình tố tụng bị kéo dài và gây khó dễ cho nguyên đơn. Mặt khác, ông D cũng đã tự mình tước bỏ quyền được xét xử bởi một phiên tòa công bằng, quyền đòi hỏi công lý tận tụy và không chậm trễ; quyền được trình bày ý kiến về giải quyết vụ án mà pháp luật quy định; ông D không hề có bất cứ một ý kiến gì về các vấn đề: Nợ hợp đồng mua bán điện chưa thanh toán, án phí. Vì vậy, Hội đồng xét xử không thể xem xét các yêu cầu của ông D trong vụ án này và lẽ tất nhiên ông D phải gánh chịu các hậu quả bất lợi.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 tại phiên tòa hôm nay: Quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đảm bảo đúng trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định; phía nguyên đơn đều chấp hành tốt các quy định pháp luật, trừ trường hợp của ông D là ông không chấp hành đúng và đầy đủ các quy định pháp luật. Có đủ cơ sở để chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Tổng công ty ĐL TNHH, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn theo quy định tại các Điều 20, 22, 23, 46 của Luật Điện lực năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2012).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào các Điều 147, 238, 273 và 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào các Điều 20, 22, 23, 46 của Luật Điện lực năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2012);
- Căn cứ vào các Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:
1. Buộc bị đơn ông Lương Văn D thanh toán cho nguyên đơn Tổng công ty ĐL TNHH số tiền 1.186.874đ (một triệu một trăm tám mươi sáu ngàn tám trăm bảy mươi bốn đồng).
Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án nếu bị đơn chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì bị đơn còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) bị đơn ông Lương Văn D phải nộp. Hoàn lại cho nguyên đơn Tổng công ty ĐL TNHH số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2017/0035152 ngày 18/12/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12.
3. Quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008./.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân TP.HCM; - Viện kiểm sát nhân dân Quận12; - Thi hành án dân sự Quận 12; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN Lê Minh Tâm Nguyễn Văn Lợi | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Hữu Hạnh THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Hữu Hạnh |