vanban.org

Bản án 67

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Hiếp dâm - phạm tội hiếp dâm (điều 141 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 141 Bộ luật Hình sự
Tßa ¸n nh©n d©n
QuËn Thanh xu©n
Thµnh phè Hµ Néi
-------------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

B¶n ¸n sè: 67/2019/ HS-ST
Ngµy: 22/04/2019

Nh©n danh

N íc céng hßa x· héi chñ nghÜa ViÖt Nam

Tßa ¸n nh©n d©n QuËn Thanh Xu©n

Thµnh phÇn Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm gåm cã:

- Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thị Hồng Vân

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Quang Linh

Bà Chu Thị Tuyết

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Phương Ánh Nguyệt

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thế Song - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 22 tháng 04 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 40/2019/TLST-HS ngày 19 tháng 03 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/2019/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 04 năm 2019 đối với bị cáo:

Trần Văn H., sinh năm 1974 tại Hà Nội; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 102 ngõ 12 Phố CK., Phường NC., Thanh Xuân, Hà Nội; Địa chỉ cư trú: Không cố định. Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Văn N. (đã chết); Con bà: Đỗ Thị H2.; Vợ: Hoàng Thị Q.; có 02 con: SN 2016 và 2017

Nhân thân:

+ Ngày 29/7/1993, TAND quận Đống Đa xử phạt 10 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản công dân. (án đã xóa)

+ Ngày 21/12/1993, TAND huyện Từ Liêm xử phạt 10 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản công dân. (án đã xóa)

+ Ngày 04/8/1995, TAND quận Đống Đa xử phạt 15 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản công dân. (án đã xóa)

+ Ngày 14/02/1998, TAND huyện Từ Liêm xử phạt 40 tháng tù giam về tội Cố ý gây thương tích. (án đã xóa)

Tiền án:

+ Ngày 24/02/1998, TAND thành phố Hà Nội xử phạt 15 năm tù giam về tội Mua, bán trái phép chất ma túy. (Bản án số: 272/HSST ngày 24/02/1998 - án chưa xóa)

Tiền sự: Không

Bắt Tạm giam ngày 14/12/2018. Hiện đang tạm giam tại trại giam số 2 - Công an thành phố Hà Nội (Có mặt tại phiên tòa)

Bị hại: Chị Phạm Thị H3. (SN: 1994, HKTT: Xóm 14, Xã KC., Yên Khánh, Ninh Bình). Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ ngày 15/8/2018 chị Phạm Thị H3. (SN: 1994, HKTT: Xóm 14, Xã KC., Yên Khánh, Ninh Bình) có đến quán nước tại đầu ngã tư đường Lê Văn Lương - Nguyễn Ngọc Vũ gặp Trần Văn H. đang bán nước tại đây. Chị H3. có nhờ H. gọi điện cho người yêu là anh Bùi Văn H4. (SN: 1994, HKTT: Xã KC., Yên Khánh, Ninh Bình) đến đón. Chị H3. cho biết do cãi nhau với anh H4. nên anh H4. đã chặn số của chị H3. nên chị H3. không gọi được. H. có mượn điện thoại của chị Nguyễn Thị Đ. (Sinh năm: 1976, HKTT: xã A., Mỹ Đức, Hà Nội) là người phụ nữ bán ngô bên cạnh là để gọi cho anh H4.. Sau khi nói chuyện với H4., H. đã nói với chị H3. là anh H4. nhờ H. đưa chị H3. đến đường Tố Hữu để gặp anh H4.. Chị H3. đã đồng ý đi cùng H.. Tuy nhiên H. đã chở chị H3. ra khu vực Hồ Đầm Chuối, phường Khương Đình, Thanh Xuân, Hà Nội. Tại đây H. yêu cầu được quan hệ tình dục với chị H3. nhưng chị H3. không đồng ý và dùng tay phải cầm điện thoại giơ lên để chống cự thì bị H. đe dọa “tao đập điện thoại bây giờ”. Chị H3. sợ hãi cất điện thoại vào trong túi. H. dùng tay trái giữ vào khu vực vai bên phải gần cổ của chị H3., còn tay phải giữ vào vai trái của chị H3. và đe dọa H3. nếu không cho H. quan hệ tình dục thì H. sẽ để chị H3. ở lại hồ cho bọn nghiện xử lý. Chị H3. không đồng ý nên liên tục khóc và nói “Em có người yêu rồi”, đồng thời cầu xin H. đưa về đường Lê Văn Lương nhưng H. không đồng ý. H. tiếp tục dùng hai tay đẩy hai vai chị H3. vào sát lan can hồ rồi dùng hai tay kéo quần dài và quần lót của chị H3. xuống đầu gối. Chị H3. liên tục khóc cầu xin H. dừng lại nhưng H. không dừng lại. H. tự kéo quần của mình xuống rồi cho dương vật đang cương cứng vào trong âm đạo của chị H3. để quan hệ tình dục trái với ý muốn của chị H3.. Được khoảng 05 phút thì H. dừng lại và xuất tinh vào âm đạo của chị H3.. Sau đó, H. kéo quần dài và quần lót của chị H3. lên và chở chị H3. về quán nước của H. ở đường Lê Văn Lương.

Đến 22 giờ cùng ngày, anh H4. đến đón chị H3. và chị H3. kể lại việc bị hiếp dâm nên anh H4. đưa chị H3. ra CAP Khương Đình trình báo sự việc trên. Chị H3. cho biết trước đó lúc 14 giờ ngày 15/8/2018, chị H3. có quan hệ tình dục với anh H4. tại nhà nghỉ. (Tại BL 79,80)

Cơ quan điều tra thu giữ của Phạm Thị H3.: (Tại BL số 142,143,144)

-

01 túi zip bên ngoài ghi mẫu quần lót của Phạm Thị H3., bên trong có 01 quần lót màu hồng mặt trước có xen kích thước 35x18cm, ống rộng 20 cm

-

02 phiếu thu ngày 16/8/2018

-

01 đơn thuốc ngày 18/8/2018

-

01 phiếu xuất thuốc ngày 18/8/2018

Đồng thời, Cơ quan CSĐT – CAQ Thanh Xuân tiến hành đưa chị H3. đến Trung tâm pháp Y Hà Nội để làm thủ tục Trưng cầu giám định pháp y tình dục. Tại bản kết luận giám định pháp y tình dục số 781/TTPY ngày 28/8/2018 của Trung tâm pháp y Hà Nội kết luận tại thời điểm giám định:(Tại BL 124,125)

1.

Trên cơ thể chị Phạm Thị Hà (H3.) không có vết sây sát, không có vết bầm tím, không có vết rách da, không cháy máu.

2.

Màng trinh của chị Phạm Thị Hà (H3.) có vết rách cũ sâu rộng từ vị trí 5 giờ đến 8 giờ, bờ mép hồng, không có vết rách mới, không có vết sây sát, không có vết bầm tím, không chảy máu.

3.

Xét nghiệm phát hiện dấu vết tinh dịch - PSA Card ( Trong dịch âm đạo, mẫu quần lót): Dương tính (Đề nghị Cơ quan CSĐT giám định ADN để xác định chính xác chủ thể).

Cơ quan CSĐT - CAQ Thanh Xuân đồng thời tiến hành xét nghiệm HIV, Viêm gan B, giang mai đối với H.. Kết quả xét nghiệm HIV, Viêm gan B, giang mai đối với H. đều âm tính. (Tại BL số 116, 127)

Cơ quan CSĐT - CAQ Thanh Xuân đã ra Quyết định trưng cầu giám định ADN số 292/CQĐT-ĐTTH trong mẫu dịch âm đạo, nước rửa dịch âm đạo và trên quần lót của chị H3. để xác định dấu vết tinh dịch là của Bùi Văn H4. hay Trần Văn H. (tại BL số 130). Tại bản kết luận giám định số 4706/C09(TT3) ngày 28/9/2018 của Viện khoa học hình sự Bộ công an kết luận:

1. Trên chiếc quần lót ghi thu của chị Phạm Thị Hà (H3.) và trong mẫu dịch rửa âm đạo ghi thu của chị Phạm Thị Hà (H3.) có tinh trùng của Trần Văn H. và Bùi Văn H4..

2. Trong mẫu dịch âm đạo ghi thu của chị Phạm Thị Hà (H3.) H3. có tinh trùng của Trần Văn H.. (Tại BL số 130 đến 133).

Tại cơ quan điều tra, Trần Văn H. khai nhận mình có yêu cầu được quan hệ tình dục với H3. nhưng không được đồng ý. Sau đó, H. dùng tay trái giữ vào khu vực vai bên phải gần cổ của chị H3., còn tay phải giữ vào vai trái của chị H3. và đe dọa H3. nếu không cho H. quan hệ tình dục thì H. sẽ để chị H3. ở lại hồ không cho về. Đồng thời, H. lấy tay trái sờ vào quần bên ngoài âm đạo của H3.. Vài phút sau, H. rút dương vật đã cương cứng của mình ra rồi mở khóa quần và khuy quần của H3., chuẩn bị cho dương vật của H. vào âm đạo của H3. để quan hệ tình dục thì H. đã xuất tinh (từ BL 27 đến 49). Tuy nhiên, căn cứ vào lời khai của bị hại là chị Phạm Thị H3. phù hợp với bản kết luận giám định số 4706/C09(TT3) ngày 28/9/2018 của Viện khoa học hình sự Bộ công an đủ cơ sở để kết luận Trần Văn H. đã có hành vi dùng vũ lực và thủ đoạn khác nhằm mục đích giao cấu trái ý muốn đối với chị H3..

Đối với chị Phạm Thị H3., ban đầu do sợ ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm nên chị H3. khai tên là Phạm Thị Hà (SN: 1994; HKTT: Xóm 14 xã Xã KC., Yên Khánh, Ninh Bình). Quá trình điều tra, chị H3. đã trình bày chính xác lý lịch của bản thân như trên. Đồng thời, Cơ quan CSĐT - CAQ Thanh Xuân đã gửi Công văn đến Trung tâm pháp y Hà Nội và Viện khoa học hình sự - Bộ Công An để đính chính thông tin bị hại. Trung tâm pháp y Hà Nội và Viện khoa học hình sự - Bộ công an đã có văn bản đính chính lại thông tin tên của chị Phạm Thị H3.. (Tại BL số 128,129,134,135).

Đối với việc bồi thường dân sự, chị H3. yêu cầu Trần Văn H. bồi thường tiền thuốc khám chữa bệnh, chi phí xét nghiệm là 6.095.000 đồng; Chi phí đi lại là 2.000.000 đồng; Tổn thất tinh thần là 5.000.000 đồng. Tổng cộng chị H3. yêu cầu Trần Văn H. bồi thường số tiền 13.095.000 đồng (mười ba triệu không trăm chín mươi lăm nghìn đồng).

Tại bản cáo trạng số 31/CT-VKS ngày 11.03.2019, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội đã truy tố Trần Văn H. về tội “Hiếp dâm” theo Khoản 1 Điều 141 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay,

Bị cáo c«ng nhËn néi dung b¶n c¸o tr¹ng nªu lµ ®óng. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là phạm tội và ăn năn hối cải. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét ®Ó cho bÞ c¸o ® îc h ëng møc ¸n nhÑ nhÊt.

Bị hại là chị Phạm Thị H3. có đơn xin xét xử vắng mặt, vẫn giữ nguyên ý kiến như trình bày tại Cơ quan điều tra, đề nghị bị cáo bồi thường số tiền: 13.095.000 đồng. Trong đó: Tiền thuốc khám chữa bệnh, chi phí xét nghiệm là 6.095.000 đồng; Chi phí đi lại là 2.000.000 đồng; Tổn thất tinh thần là 5.000.000 đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 141; Điểm s Khoản 1 Điều 51, điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Trần Văn H. từ 30 đến 36 tháng tù về tội “Hiếp dâm”.

Về bồi thường dân sự: Buộc Bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền: 13.095.000 đồng (mười ba triệu không trăm chín mươi lăm nghìn đồng).

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 05 mẫu phết dịch tế bào âm đạo, 03 mẫu quyệt niêm mạc miệng, 01 mẫu dịch bên trong âm đạo vào 01 mẫu quần lót của Phạm Thị H3.; 03 mẫu quyệt niêm mạc miệng và 01 mẫu máu của Bùi Văn H4.; 03 mẫu quyệt niêm mạc miệng và 01 mẫu máu của Trần Văn H..

Bị cáo H. không bào chữa và tranh luận gì, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

C¨n cø vµo c¸c tµi liÖu chøng cø ®· ® îc thÈm tra t¹i phiªn toµ; c¨n cø vµo kÕt qu¶ tranh luËn t¹i phiªn toµ, trªn c¬ së xem xÐt ®Çy ®ñ, toµn diÖn c¸c chøng cø, ý kiÕn cña KiÓm s¸t viªn…

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an quận Thanh Xuân, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh và điều luật áp dụng:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: Lời khai của người làm chứng, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra; phù hợp với tang vật, vật chứng thu giữ, biªn b¶n định giá tài sản... cã ®ñ c¬ së kh¼ng ®Þnh:

Khoảng 20 giờ 00 ngày 15/8/2018, Trần Văn H. đã có hành vi dùng vũ lực và thủ đoạn khác giao cấu trái ý muốn đối với chị Phạm Thị H3. tại khu vực Hồ Đầm Chuối, phường Khương Đình, Thanh Xuân, Hà Nội.

Hành vi của bị cáo Trần Văn H. đã đủ yếu tố cấu thành tội “Hiếp dâm”, quy định tại Khoản 1 Điều 141 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm thân thể, nhân phẩm, gây ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý bình thường của người bị hại, gây bức xúc và hoang mang trong quần chúng nhân dân . Chỉ vì dục vọng cá nhân, bị cáo đã bất chấp các quy định của pháp luật, dùng vũ lực và thủ đoạn khác để cố tình giao cấu trái ý muốn của bị hại.

Nhân thân bị cáo rất xấu. Bản thân bị cáo đã nhiều lần bị kết án, điều đó chứng tỏ bị cáo mặc dù đã được giáo dục pháp luật nhưng không tích cực tu dưỡng bản thân, tiếp tục có hành vi phạm tội. Do vậy, cần áp dụng một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội, nghiêm khắc với bị cáo, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.

Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: 01 tình tiết tăng nặng (tái phạm) quy định tại điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1 Bộ luật hình sự. Do đó, cũng giảm một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

VÒ nh÷ng vÊn ®Ò kh¸c:

* Về bồi thường dân sự: Xét yêu cầu đòi bồi thường của Bị hại là chính đáng và có cơ sở nên được chấp nhận. Buộc bị cáo phải bồi thường cho chị Phạm Thị H3. số tiền: 13.095.000 đồng (mười ba triệu không trăm chín mươi lăm nghìn đồng). Trong đó: Tiền thuốc khám chữa bệnh, chi phí xét nghiệm là 6.095.000 đồng; Chi phí đi lại là 2.000.000 đồng; Tổn thất tinh thần là 5.000.000 đồng.

* Về vật chứng, xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: 05 mẫu phết dịch tế bào âm đạo, 03 mẫu quyệt niêm mạc miệng, 01 mẫu dịch bên trong âm đạo vào 01 mẫu quần lót của Phạm Thị H3.; 03 mẫu quyệt niêm mạc miệng và 01 mẫu máu của Bùi Văn H4.; 03 mẫu quyệt niêm mạc miệng và 01 mẫu máu của Trần Văn H..

* Về án phí: bÞ c¸o ph¶i chÞu 200.000 đồng ¸n phÝ h×nh sù s¬ thÈm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy ®Þnh cña ph¸p luËt.

* Về quyền kháng cáo: bÞ c¸o, người bị hại cã quyÒn kh¸ng c¸o theo quy ®Þnh cña ph¸p luËt.

V× c¸c lÏ trªn;

QuyÕt ®Þnh

1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn H. phạm tội “Hiếp dâm".

2. Áp dụng: Khoản 1 Điều 141; điểm s khoản 1Điều 51; điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

- Xử phạt bị cáoTrần Văn H. 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/12/2018.

3. Về những vấn đề khác:

* Về vật chứng, xử lý vật chứng:

Áp dụng: Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 05 mẫu phết dịch tế bào âm đạo, 03 mẫu quyệt niêm mạc miệng, 01 mẫu dịch bên trong âm đạo vào 01 mẫu quần lót của Phạm Thị H3.; 03 mẫu quyệt niêm mạc miệng và 01 mẫu máu của Bùi Văn H4.; 03 mẫu quyệt niêm mạc miệng và 01 mẫu máu của Trần Văn H..

(Theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 15 giờ 40 phút ngày 16 tháng 04 năm 2019 giữa Công an quận Thanh Xuân và Chi cục thi hành án Dân sự quận Thanh Xuân)

* Về bồi thường dân sự:

Áp dụng: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự:

Buộc bị cáo phải bồi thường cho chị Phạm Thị H3. số tiền: 13.095.000 đồng (mười ba triệu không trăm chín mươi lăm nghìn đồng). Trong đó: Tiền thuốc khám chữa bệnh, chi phí xét nghiệm là 6.095.000 đồng; Chi phí đi lại là 2.000.000 đồng; Tổn thất tinh thần là 5.000.000 đồng.

* Về án phí và quyền kháng cáo:

Áp dụng: Điều 136, 331, 333 Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Toà án và danh mức án phí lệ phí Toà án ngày 30/12/2016:

BÞ c¸o Trần Văn H. ph¶i chÞu 200.000 ®ång (Hai tr¨m ngh×n ®ång) ¸n phÝ h×nh sù s¬ thÈm và 300.000 đồng (Ba tr¨m ngh×n ®ång) án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo cã quyÒn kh¸ng c¸o trong h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy tuyªn ¸n.

Người bị hại trong vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

¸n xö c«ng khai s¬ thÈm. N¬i nhËn:

Tm. héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm

- TAND Thµnh phè Hµ Néi;

ThÈm ph¸n - chñ to¹ phiªn toµ

- VKSND quËn Thanh Xu©n;

- CA QuËn Thanh Xu©n;

- THADS quËn Thanh Xu©n ;

- BÞ c¸o; L u hå s¬.

LƯU THỊ HỒNG VÂN

Cỡ chữ