- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồ Tú A - lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hồ Tú A phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 174 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 67/2026/HS-ST Ngày: 29-5-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Tâm.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Thơm - Phó hiệu trưởng trường tiểu học, trung học Yên Thành.
Bà Trần Thị Hồng Nhạn - Phó hiệu trưởng trường mầm non Yên Tân.
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Soan - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 8 - Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Bích Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 8 - Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 49/2026/TLST-HS ngày 07-5-2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2026/QĐXXST-HS ngày 15-5-2026 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hồ Tú A, sinh ngày 29-11-2008; tại tỉnh Nghệ An; căn cước công dân số: 04208029xxx; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: thôn Bình Đ, xã T, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Văn H, sinh năm 1986 và bà Ngô Thị C sinh năm 1984; vợ con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không; Bị can bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 28-02-2026 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo: Bà Ngô Thị C, sinh năm 1984; Nơi cư trú: Tổ dân phố Bãi N, phường T, thành phố Hải Phòng, có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Trần Thị T - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Ninh Bình, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Cháu Trịnh Thị Ngọc C, sinh ngày 28-10-2008; Nơi cư trú: Thôn 1, xã Ý , tỉnh Ninh Bình, có đơn xin vắng mặt.
- Người đại diện theo pháp luật của bị hại: Bà Trần Thị C, sinh năm 1981; Nơi cư trú: Thôn 1, xã Ý , tỉnh Ninh Bình, có đơn xin vắng mặt.
- Người làm công tác xã hội: Bà Cao thị Thanh H – Cán bộ Phòng Văn hóa xã hội Ủy ban nhân dân xã Ý , tỉnh Ninh Bình, có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
+ Anh Dương Thanh T, sinh năm 1994; Địa chỉ: Thôn Đô H xã B, tỉnh Ninh Bình, vắng mặt.
+ Anh Nguyễn Tài Dương, sinh năm 2001; Địa chỉ: Thôn An Cừ Hạ, xã Vũ Dương, tỉnh Ninh Bình, vắng mặt.
+ Anh Phạm Trọng T, sinh năm 1994; Địa chỉ: Thôn Vạn Đ, xã Ý , tỉnh Ninh Bình, vắng mặt.
+ Bà Trần Thị Sinh, sinh năm 1975; Địa chỉ: Thôn Vạn Điểm 6, xã Ý Yên, tỉnh Ninh Bình, vắng mặt.
+ Cháu Hoàng Thị Y, sinh năm 2011; Địa chỉ: Thôn Vạn Đ, xã Ý tỉnh Ninh Bình, vắng mặt.
+ Người đại diện theo pháp luật của cháu Y: Anh Trần Đình L, sinh năm 2000; Địa chỉ: Thôn Vạn Đ, xã Ý , tỉnh Ninh Bình, vắng mặt.
+ Cháu Nguyễn Huy H, sinh năm 2008; Địa chỉ: Thôn A, xã B, tỉnh Ninh Bình, vắng mặt.
+ Người đại diện theo pháp luật của cháu H Anh Nguyễn Xuân T, sinh năm 1984; Địa chỉ: Thôn V, xã B, tỉnh Ninh Bình, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có quan hệ tình cảm từ trước nên khoảng 23 giờ ngày 15-10-2025, Hồ Tú A, nhắn tin qua messenger cho cháu Trịnh Thị Ngọc C, rủ đi chơi, cháu C đồng ý và hẹn gặp nhau ở cầu Bệnh Viện, xã Ý Yên, tỉnh Ninh Bình. Cháu C một mình điều khiển xe đạp điện KD2 DYLEXE (xe V1), màu đen, không biển kiểm soát, không bàn đạp, không giỏ xe đến điểm hẹn rồi đi chơi cùng Tú A, sau đó cả hai đến nhà nghỉ Tuấn T có địa chỉ tại: thôn H, xã Ý, tỉnh Ninh Bình để nghỉ qua đêm. Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 16-10-2025, do cần tiền tiêu xài nên Tú A nảy sinh ý định mượn xe đạp điện của cháu C đem đi bán. Tú A nói dối cháu C mượn xe để đi lấy tiền ở Hà Nam, cháu C đồng ý và đưa chìa khóa xe cho Tú A. Tú A điều khiển xe đạp điện đến cửa hàng internet MKGaming có địa chỉ tại: thôn Vạn Đ, xã Ý, tỉnh Ninh Bình gặp Nguyễn Huy H (bạn của Tú A) đang chơi game thì rủ H cùng đi đến cửa hàng của anh Dương Thanh T, tại: thôn Đô H, xã B, tỉnh Ninh Bình (là chủ cửa hàng T Tattoo, kinh doanh dịch vụ xăm nghệ thuật; mua bán xe đạp, xe máy) để cầm cố xe với số tiền 3.000.000 đồng. Do không có tài khoản ngân hàng nên Tú A nhờ anh T chuyển tiền vào những số tài khoản và số tiền cụ thể khi Tú A báo, đồng thời nhờ anh T gọi taxi để Tú A và H về lại cửa hàng bi-a 1900, có địa chỉ tại: thôn Thanh L, xã Ý , tỉnh Ninh Bình. Tại đây, Tú A mượn điện thoại của anh Nguyễn Tài Dương (là quản lý của quán) để đăng nhập vào tài khoản messenger của Tú A và nhắn tin cho cháu C và nói xe đạp điện của C bị thủng săm, đang sửa bên Hà Nam, hứa mai sẽ lấy xe cho cháu C, bảo cháu C đưa số tài khoản ngân hàng của cháu C để Tú A chuyển tiền thanh toán tiền phòng nghỉ. Tú A bảo anh T chuyển tiền từ tài khoản ngân hàng Techcombank số 9963486xxx của anh T đến các tài khoản cụ thể: tài khoản ngân hàng MB số 006060188xxx của anh Nguyễn Tài D số tiền 2.300.000 đồng là tiền chơi bi-a còn nợ quán từ trước, đến tài khoản ngân hàng MB số 9968492xxx của anh Mai Đức D số tiền 250.000 đồng trả tiền xe taxi đi từ cửa hàng của anh T về cửa hàng bi-a 1900; đến tài khoản ngân hàng VPBank số 097186640 của cháu Trịnh Thị Ngọc C số tiền 450.000 đồng, Tú A thoát tài khoản messenger và trả điện thoại cho anh D. Do đã trả nợ xong, anh D trả lại cho Tú A chiếc xe mô tô wave 110 màu đỏ mà trước đó Tú A và H để lại quán để làm tin. Tú A điều khiển xe mô tô chở H đến quán Internet MKGaming rồi một mình điều khiển xe mô tô đến nhà nghỉ Tuấn T đón và chở cháu C về nhà, sau đó Tú A quay lại quán Internet MKGaming để tiếp tục chơi game. Khi hết tiền Tú A tiếp tục liên lạc với anh T để thống nhất bán chiếc xe đạp điện của cháu C cho anh T với giá 7.000.000 đồng. Hai bên thống nhất anh T giữ lại số tiền 200.000 đồng do Tú A chưa đưa bộ sạc pin cho anh T, khi nào Tú A chuyển bộ sạc pin cho anh T thì anh T sẽ chuyển trả cho Tú A. Anh T chuyển thêm tổng số tiền 3.800.000 đồng đến nhiều số tài khoản khác nhau theo yêu cầu của Tú A, cụ thể: số tiền 1.000.000 đồng đến tài khoản ngân hàng BIDV số 1291000041268, chủ tài khoản Phạm Trọng T. Tú A lấy tiền mặt từ anh T để thanh toán tiền chơi internet và ăn uống nhiều lần tại quán của anh T; số tiền 2.000.000 đồng đến tài khoản ngân hàng MB số 006060188xxx, chủ tài khoản Nguyễn Tài D. Tú A lấy tiền mặt từ anh D, sử dụng 500.000 đồng để thanh toán tiền nhà nghỉ Tuấn T, 1.500.000 đồng nạp chơi game online hết; số tiền 800.000 đồng đến tài khoản ngân hàng BIDV số 8824997386, chủ tài khoản Trần Thị S, là mẹ đẻ của Hoàng Thị Y – bạn của Tú A, sau đó nhờ Y thanh toán tiền chơi bi- a tại quán Nam Anh có địa chỉ: khu Đ, thôn Thanh L, xã Ý . Sau đó, nhiều lần cháu C liên lạc hỏi Tú A để lấy lại chiếc xe đạp điện của mình nhưng Tú A không trả lời. Ngày 27-10-2025, cháu C đến Công an xã Ý trình báo vụ việc.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐGTS ngày 18-11-2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự xã Ý, tỉnh Ninh Bình kết luận: Xe đạp điện KD2 DYLEXE (tên gọi khác: xe V1), màu đen, không biển kiểm soát, không bàn đạp, không giỏ xe, số máy RL9Y7EGTNSBM82683, số khung AN48V500W2408001939SWX48V500W, xe đã qua sử dụng có giá trị tại thời điểm ngày 16-10-2025 là 8.500.000đ (Tám triệu năm trăm nghìn đồng).
Ngày 28-02-2025 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Ninh Bình ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Hồ Tú A về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại Cơ quan điều tra, Hồ Tú A khai nhận hành vi phạm tội của bản thân như nêu trên.
Đối với cháu Nguyễn Huy H: Cháu H không được bàn bạc từ trước, không biết việc Tú A lừa mượn chiếc xe đạp điện của C để đi bán. Do vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình không đề cập xử lý đối với cháu Hoàng.
Đối với anh Dương Thanh T: Anh T kinh doanh cửa hàng mua bán mô tô, xe máy đã qua sử dụng, phun thêu thẩm mỹ; không đăng ký kinh doanh dịch vụ cầm đồ nhưng vẫn nhận cầm cố xe đạp điện cho Hồ Tú A. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình chuyển hồ sơ, tài liệu liên quan đề nghị Công an xã Bình Sơn, tỉnh Ninh Bình xử phạt vi phạm hành chính đối với anh T.
Về việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình đã thu giữ: 01 (Một) xe đạp điện nhãn hiệu KD2 DYLEXE (tên gọi khác xe V1), màu đen, không biển kiểm soát, không bàn đạp, số khung RL9Y7EGTNSBM82683, số máy AN48V500WW2408001939 SWX48V500W. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình đã trả lại cho cháu Trịnh Thị Ngọc C.
Về trách nhiệm dân sự: Hồ Tú A đã tác động gia đình trả lại số tiền 6.800.000 đồng cho anh Dương Thanh T để lấy lại chiếc xe đạp điện của cháu C. Anh T đã nhận đủ số tiền và không yêu cầu, đề nghị gì khác, cháu Trịnh Thị Ngọc C đã nhận lại xe và không có yêu cầu đề nghị gì khác.
Bản cáo trạng số 26/CT-VKSKV8 ngày 07-5-2026 Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Ninh Bình truy tố Hồ Tú A “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà:
Bị cáo Hồ Tú A đã thành khẩn khai nhận, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình và khai bị cáo có thủ đoạn gian dối đối với cháu Trịnh Thị Ngọc C mục đích chiếm đoạt chiếc xe đạp điện của cháu C đem đi bán để lấy tiền tiêu xài cá nhân.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Ninh Bình giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:
- Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Hồ Tú A về tội danh và điều luật như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Hồ Tú A phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; Điều 119 Luật tư pháp người chưa thành niên: Xử phạt bị cáo Hồ Tú A từ 04 tháng tù đến 06 tháng tù.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Hồ Tú A đã tác động gia đình trả lại số tiền 6.800.000 đồng cho anh Dương Thanh T để lấy lại chiếc xe đạp điện của cháu C. Anh T đã nhận đủ số tiền và không yêu cầu, đề nghị gì khác, cháu C đã nhận lại xe và không có yêu cầu đề nghị gì khác nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị cáo không có ý kiến gì đối với bản luận tội của Kiểm sát viên.
Người bào chữa của bị cáo Hồ Tú A không có ý kiến gì đối với tội danh, điều luật Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo như: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị có có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải đối với hành vi của mình, bị cáo đã tác động gia đình khắc phục toàn bộ thiệt hại, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo phạm tội ở độ tuổi chưa thành niên. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 119, Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên xử bị cáo dưới mức án thấp nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Bị cáo, người đại diện theo pháp luật của bị cáo nhất trí với lời bào chữa của người bào chữa.
Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về sự vắng mặt của bị hại, đại diện theo pháp luật của bị hại: Cháu Trịnh Thị Ngọc C và bà Trần Thị C có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy cháu C và bà C có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án, về bồi thường thiệt hại đã được nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác. Chính vì vậy sự vắng mặt của bị hại, đại diện theo pháp luật của bị hại không làm ảnh hưởng tới sự thật khách quan của vụ án, không ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
Về tội danh:
Bị cáo Hồ Tú A có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi, do bị cáo cần tiền để tiêu xài cá nhân nên ngày 16-10-2025 đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản là 01 xe đạp điện nhãn hiệu KD2 DYLEXE của cháu Trịnh Thị Ngọc C bằng cách nói dối là mượn xe để đi lấy tiền ở Hà Nam. Cháu C đã tin tưởng giao xe cho Tú A, sau đó bị cáo đã mang xe đi bán cho anh Dương Thanh T với giá 6.800.000 đồng. Bản kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐGTS ngày 18-11-2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự xã Ý Yên, tỉnh Ninh Bình kết luận: Xe đạp điện KD2 DYLEXE đã qua sử dụng có giá trị tại thời điểm ngày 16-10-2025 là 8.500.000đ (Tám triệu năm trăm nghìn đồng). Bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích chiếm đoạt tài sản của bị hại nên vẫn cố ý thực hiện.
Hành vi của bị cáo Hồ Tú A còn được chứng minh bằng lời khai của bị hại, của người làm chứng; biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, dữ liệu cùng tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Hồ Tú A phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:
4.1. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Hồ Tú A không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
4.2. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Qúa trình điều tra, truy tố bị cáo Hồ Tú A tác động gia đình trả lại số tiền 6.800.000 đồng cho anh Dương Thanh T; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo phạm tội khi mới 16 tuổi 10 tháng 17 ngày nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử áp dụng các nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội quy định quy định khoản 1 Điều 119, Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên, Điều 54 Bộ luật Hình sự xử bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với người chưa thành niên phạm tội, nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ bị cáo sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh trở thành công dân có ích cho xã hội.
4.3. Hình phạt chính:
Trên cơ sở xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đối chiếu với các quy định của Bộ luật Hình sự và Luật tư pháp người chưa thành niên; Hội đồng xét xử thấy: Hành vi của bị cáo Hồ Tú A là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Theo báo cáo điều tra xã hội ngày 19-3-2026, bị cáo Tú A có biểu hiện sống thiếu trách nhiệm, buông thả bản thân, thường xuyên tụ tập bạn bè, ăn chơi, chi tiêu vượt quá khả năng tài chính. Tú A đã nhiều lần cầm cố tàn sản tại các cơ sở cầm đồ để lấy tiền chi tiêu. Sau khi sử dụng hết số tiền, tiếp tục vay mượn hoặc tìm cách khác để có tiền, tiềm ẩn nguy cơ thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thầy cần áp dụng loại hình phạt tù có thời hạn để cách ly bị cáo Hồ Tú A ra khỏi xã hội một thời gian làm bài học cho bị cáo, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và góp phần phòng ngừa tội phạm nói chung.
4.4. Hình phạt bổ sung:
Bị cáo không không có việc làm và thu nhập ổn định, không có tài sản và thu nhập riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về phần dân sự:
Bị cáo Hồ Tú A đã tác động gia đình trả lại số tiền 6.800.000 đồng cho anh Dương Thanh T để lấy lại chiếc xe đạp điện của cháu C. Anh T đã nhận đủ số tiền và không yêu cầu, đề nghị gì khác, cháu Trịnh Thị Ngọc C đã nhận lại xe và không có yêu cầu đề nghị gì khác nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về vật chứng của vụ án: Vật chứng của vụ án đã được trả lại cho bị hại và bị hại không có đề nghị gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Hồ Tú A bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Hồ Tú A phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
2. Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 119, Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên.
Xử phạt bị cáo Hồ Tú A 03 (Ba) tháng tù.
Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày bắt đi thi hành án.
3. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Hồ Tú A phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
4. Bị cáo, người bào chữa của bị cáo, người đại diện theo pháp luật của bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại, đại diện theo pháp luật của bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Điều 2 Luật Thi hành án dân sự: Bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
- Người bào chữa cho bị cáo;
- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo;
- Bị hại;
- Người đại diện theo pháp luật của bị hại;
- Toà án nhân dân tỉnh Ninh Bình;
- Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Ninh Bình;
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình;
- Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình.;
Nguyễn Thị Minh Tâm
- Công an tỉnh Ninh Bình;
- Lưu Hồ sơ;
- Lưu VP.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Minh Tâm
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người bào chữa cho bị cáo; - Người đại diện theo pháp luật của bị cáo; - Bị hại; - Người đại diện theo pháp luật của bị hại; - Toà án nhân dân tỉnh Ninh Bình; - Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Ninh Bình; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình; - Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình.; - Công an tỉnh Ninh Bình; - Lưu Hồ sơ; - Lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Minh Tâm |