- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "THOA - TRINH"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của à Nguyễn Thị Kiều T1.
- Căn cứ chính? Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 67/2026/DS-PT Ngày 20 - 01 - 2026 V/v tranh chấp hợp đồng dân sự về hụi |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Dững
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Ngọc Thái Dũng
Ông Lê Thành Tôn
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở 1 Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 616/2025/TLPT-DS ngày 03 tháng 11 năm 2025 về việc: “Tranh chấp hợp đồng dân sự về hụi”.
Do ản án dân sự s thẩm số: 18/2025/DS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Đồng Tháp ị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 675/2025/QĐ-PT ngày 27 tháng 11 năm 2025, giữa các đư ng sự:
1. Nguyên đơn: Bà Đào Thị Kim T, sinh năm 19
Địa chỉ: Ấp C, xã P, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Đào Thị Kim T: Chị Dư ng Thị Như Ý, sinh năm 1987. Địa chỉ: Ấp A, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
2. Bị đơn:
2.1. Bà Nguyễn Thị Kiều T1, sinh năm 19
2.2. Ông Tôn Văn T2, sinh năm 1984.
Cùng địa chỉ: Ấp B, xã P, tỉnh Đồng Tháp.
3. Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Kiều T1, ông Tôn Văn T2 là ị đ n trong vụ án.
(Chị Ý, à T1, ông T2 có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Đào Thị Kim T do chị Dương Thị Như Ý là người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Trong các năm 2021-2024, bà T có tổ chức ch i hụi và làm chủ hụi, vợ chồng ông Tôn Văn T2 và bà Nguyễn Thị Kiều T1 có tham gia các dây hụi do bà T làm chủ hụi với loại hụi, số hụi viên, giá trị dây hụi, số phần ông T2 và bà T1 tham gia và số tiền nợ tiền hụi của các dây hụi như sau:
1. Hụi tháng 2.000.000 đồng, khui ngày 06/6/2023 âm lịch, 26 phần, ông T2 và bà T1 tham gia ch i 02 phần, đã hốt hết 02 phần, còn thiếu lại 8 lần hụi chết với số tiền 32.000.000 đồng.
2. Hụi tháng 3.000.000 đồng, khui ngày 08/02/2023 âm lịch, 26 phần, ông T2 và bà T1 tham gia 02 phần đã hốt hết 02 phần, còn thiếu 3 lần hụi chết với số tiền 18.000.000 đồng.
3. Hụi tháng 1.000.000 đồng, khui ngày 10/10/2023 âm lịch, 27 phần, ông T2 va bà T1 tham gia 02 phần đã hốt hết 02 phần, còn thiếu lại 13 lần hụi chết với số tiền 26.000.000 đồng.
4. Hụi tháng 5.000.000 đồng, khui ngày 12/8/2023 âm lịch, 27 phần, ông T2 và bà T1 tham gia 03 phần, đã hốt hết 03 phần, còn 11 lần hụi chết chưa đóng với số tiền 165.000.000 đồng.
5. Hụi tháng 3.000.000 đồng, khui ngày 16/10/2023 âm lịch, 26 phần, ông T2 và bà T1 tham gia 01 phần đã hốt 01 phần, còn 24 lần hụi chết với số tiền 72.000.000 đồng.
6. Hụi tháng 3.000.000 đồng, khui ngày 18/02/2024 âm lịch, 27 phần, ông T2 và bà T1 tham gia 02 phần đã hốt hết 02 phần, còn 17 lần hụi chết chưa đóng với số tiền 102.000.000 đồng.
7. Hụi tháng 2.000.000 đồng, khui ngày 20/02/2023 âm lịch, 26 phần, ông T2 và bà T1 tham gia 02 phần, còn 3 lần hụi chết chưa đóng với số tiền 12.000.000 đồng.
8. Hụi tháng 1.000.000 đồng, khui ngày 20/11/2023 âm lịch, 26 phần, ông T2 và bà T1 tham gia 02 phần, đã hốt hết 02 phần, còn thiếu lại 13 lần hụi chết chưa đóng với số tiền 26.000.000 đồng.
9. Hụi tháng 1.000.000 đồng, khui ngày 22/11/2023 âm lịch, 26 phần, ông T2 và bà T1 tham gia 02 phần, đã hốt hết 02 phần, còn thiếu lại 13 lần hụi chết với số tiền 26.000.000 đồng.
10. Hụi tháng 2.000.000 đồng, khui ngày 22/8/2023 âm lịch, 26 phần, ông T2 và bà T1 tham gia 04 phần đã hốt hết 04 phần, còn thiếu lại 10 lần hụi chết với số tiền 80.000.000 đồng.
11. Hụi tháng 2.000.000 đồng, khui ngày 24/02/2024 âm lịch, 26 phần, ông T2 và bà T1 tham gia 02 phần, đã hốt hết 02 phần, còn thiếu lại 16 lần hụi chết với số tiền 64.000.000 đồng.
12. Hụi 03 tháng khui một lần 5.000.000 đồng, khui ngày 09/11/2021 âm lịch, gồm 22 phần, ông T2 và bà T1 tham gia 02 phần, đã hốt hết 02 phần, còn thiếu lại 9 lần hụi chết với số tiền 90.000.000 đồng.
13. Hụi 03 tháng khui một lần 10.000.000 đồng, khui ngày 10/10/2022 âm lịch, gồm 16 phần, ông T2 và bà T1 tham gia 01 phần, đã hốt 01 phần, còn thiếu lại 6 lần hụi chết với số tiền 60.000.000 đồng.
14. Hụi 04 tháng khui một lần 10.000.000 đồng, khui ngày 12/6/2021 âm lịch, gồm 16 phần, ông T2 và bà T1 tham gia 01 phần, đã hốt 01 phần, còn thiếu lại 5 lần hụi chết với số tiền 50.000.000 đồng.
15. Hụi 04 tháng khui một lần 10.000.000 đồng, khui ngày 14/4/2021 âm lịch, gồm 16 phần, ông T2 và bà T1 tham gia 02 phần, đã hốt hết 02 phần, còn thiếu lại 3 lần hụi chết với số tiền 60.000.000 đồng.
16. Hụi 04 tháng khui một lần 10.000.000 đồng, khui ngày 28/4/2022 âm lịch, gồm 16 phần, ông T2 và bà T1 tham gia 02 phần, đã hốt hết 02 phần, còn thiếu lại số tiền 140.000.000 đồng.
Sau khi hốt các dây hụi nêu trên à T1 và ông T2 không đóng tiền hụi cho bà T với tổng số tiền hụi còn nợ của các dây hụi 1.023.000.000 đồng. Mặc dù, trong sổ hụi để tên à T1 và một số iên nhận tiền một mình à T1 ký, thực tế ông T2 iết, số tiền à T1 hốt hụi sử dụng vào mục đích nhu cầu thiết yếu của gia đình. Sau khi vỡ hụi ông T2 trực tiếp đóng hụi chết cho bà T được 2 tháng với số tiền 121.000.000 đồng thì không đóng tiền hụi nữa, khi vỡ hụi ông T2 cùng với chồng à T là ông T3 đến Ủy an nhân dân xã H thỏa thuận trả nợ tiền hụi, ông T2 hứa mỗi mùa lúa trả cho à T số tiền 100.000.000 đồng cho đến khi hết nợ. Đến ngày 10/3/2025 ông T2 nhắn tin zalo cho bà T “Bà ráng đi vụ lúa Hè Thu tui gửi cho bà từ 50t đến 100t. Chứ bây giờ tui không có tiền. Mong bà thông cảm”.
Bà T yêu cầu à T1 và ông T2 cùng liên đới trả số tiền hụi còn nợ 1.023.000.000 đồng, yêu cầu áp dụng iện pháp khẩn cấp tạm thời với hình thức phong tỏa tài sản thửa đất 417, tờ ản đồ số 2, do ông T2 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đất tọa lạc tại ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn bà Nguyễn Thị Kiều T1 trình bày:
Bà T1 thừa nhận có tham gia các dây hụi với loại hụi, số hụi viên, giá trị dây hụi, số phần hụi tham gia trong từng dây hụi và số tiền nợ hụi của các dây hụi như à Đào Thị Kim T trình bày, bà T1 thừa nhận còn nợ tổng số tiền hụi của à T 1.023.000.000 đồng. Khi tham gia các dây hụi nêu trên chỉ một mình bà T1 tham gia ch i hụi, còn ông T2 không iết, số tiền hốt hụi sử dụng đóng hụi chết cho à T, ông T2 chỉ tham gia ch i một phần hụi do à T làm chủ hụi, loại hụi mùa, 04 tháng khui hụi một lần 10.000.000 đồng, khui ngày 28/4/2022 âm lịch, gồm 16 phần, tham gia 02 phần (trong đó à T1 01 phần, ông T2 01 phần), khi tham gia hụi có danh sách hụi ông T2 ch i nhưng ghi tên bà T1, dây hụi này ông T2 và bà T1 đã hốt xong 02 phần, đến nay còn nợ bà T số tiền 140.000.000 đồng (trong đó à T1 nợ 70.000.000 đồng, ông T2 nợ 70.000.000 đồng). Bà T1 thừa nhận sau khi vỡ hụi ông T2 đóng hụi chết cho bà T được 2 tháng với số tiền 121.000.000 đồng, đến nay không đóng nữa, khi vỡ hụi ông T2 cùng chồng à T là ông T3 đến Ủy an nhân dân xã H thỏa thuận trả tiền nợ hụi, ông T2 hứa mỗi mùa lúa trả cho à T số tiền hụi còn nợ 100.000.000 đồng cho đến khi hết nợ.
Bà T1 đồng ý trả cho à T số tiền hụi còn nợ 1.023.000.000 đồng. Đối với yêu cầu áp dụng iện pháp khẩn cấp tạm thời của à T thì bà T1 không có ý kiến gì.
- Bị đơn ông Tôn Văn T2 trình bày:
Ông T2 không đồng ý theo lời trình ày của à Đào Thị Kim T, ông T2 chỉ tham gia ch i một phần hụi do à T làm chủ hụi, loại hụi mùa, 04 tháng khui hụi một lần 10.000.000 đồng, khui ngày 28/4/2022 âm lịch, gồm 16 phần, tham gia ch i 02 phần (trong đó à T1 01 phần, ông T2 01 phần), khi tham gia hụi có danh sách hụi ông T2 ch i nhưng ghi tên bà T1, dây hụi này ông T2 và bà T1 đã hốt xong 02 phần, ông T2 nhận tiền và ký tên người hốt hụi, còn nợ à T số tiền hụi 140.000.000 đồng (trong đó à T1 nợ 70.000.000 đồng, ông T2 nợ 70.000.000 đồng). Ông T2 và bà T1 còn chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn, việc à T1 ch i hụi với à T và số tiền à T1 sử dụng vào mục đích gì ông T2 không iết. Khi à T1 vỡ hụi ông T2 cùng với chồng à T là ông T3 đến Ủy an nhân dân xã H thì ông T3 nói bà T1 nợ tiền hụi, yêu cầu ký nhận nợ ông T2 không ký, ông T2 thừa nhận ngày 10/3/2025 có nhắn tin zalo cho à T “Bà ráng đi vụ lúa Hè Thu tui gửi cho bà từ 50t đến 100t. Chứ bây giờ tui không có tiền. Mong bà thông cảm”. Sau khi bà T1 vỡ hụi ông T2 nghĩ à T1 là vợ nên đứng ra thỏa thuận đóng hụi chết cho à T được 2 tháng với số tiền 121.000.000 đồng.
Ông T2 đồng ý trả cho à T số tiền hụi còn nợ 70.000.000 đồng, không đồng ý với yêu cầu áp dụng iện pháp khẩn cấp tạm thời của à T với hình thức phong tỏa tài sản đối với thửa đất nêu trên, vì đây là tài sản của cá nhân ông T2.
Tại quyết định ản án dân sự s thẩm số: 18/2025/DS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Đồng Tháp tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của à Đào Thị Kim T đối với à Nguyễn Thị Kiều T1 và ông Tôn Văn T2.
Buộc à Nguyễn Thị Kiều T1 và ông Tôn Văn T2 có trách nhiệm liên đới trả cho à Đào Thị Kim T số tiền hụi còn nợ là 1.023.000.000 đồng (Một tỷ không trăm hai mư i a triệu đồng).
Kể từ ngày có đ n yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, ên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Tiếp tục duy trì iện pháp khẩn cấp tạm thời tại Quyết định số: 06/2025/QĐ-BPKCTT ngày 23/5/2025 của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp (nay là Tòa án nhân dân khu vực 11 - Đồng Tháp) về áp dụng iện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ để đảm ảo thi hành án. Kể từ ngày ản án này có hiệu lực pháp luật thì Quyết định áp dụng iện pháp khẩn cấp tạm thời số: 06/2025/QĐ-BPKCTT ngày 23/5/2025 của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông (nay là Tòa án nhân dân khu vực 11 – Đồng Tháp) trong quá trình giải quyết vụ án ị hủy ỏ.
3. Khi ản án có hiệu lực pháp luật, à Đào Thị Kim T được nhận lại toàn ộ số tiền đã nộp là 50.000.000 đồng (Năm mư i triệu đồng) tại Ngân hàng N1 - Chi nhánh huyện T (nay là Ngân hàng N1 - Chi nhánh T5) theo Quyết định uộc thực hiện iện pháp ảo đảm số: 02/2025/QĐ-BPBĐ, ngày 23/5/2025 của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp (nay là Tòa án nhân dân khu vực 11 - Đồng Tháp).
4. Về án phí dân sự s thẩm:
Bà Nguyễn Thị Kiều T1 và ông Tôn Văn T2 phải nộp 42.690.000 đồng (Bốn mư i hai triệu sáu trăm chín mư i nghìn đồng) tiền án phí dân sự s thẩm.
Bà Đào Thị Kim T không phải nộp tiền án phí dân sự s thẩm, được nhận lại tiền tạm ứng án phí số tiền là 21.345.000 đồng (Hai mư i mốt triệu a trăm ốn mư i lăm nghìn đồng) theo iên lai thu số: 0007248, ngày 20/5/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 11 - Đồng Tháp).
Ngoài ra ản án s thẩm còn tuyên thời hạn, quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ, thời hiệu thi hành án của các đư ng sự.
Sau khi xét xử s thẩm:
Ngày 11 tháng 9 năm 2025, bà Nguyễn Thị Kiều T1 và ông Tôn Văn T2 kháng cáo ản án dân sự s thẩm số: 18/2025/DS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Đồng Tháp. Bà T1 yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm trừ số tiền 121.000.000 đồng ông T2 trả nợ giúp à T1, việc ch i hụi không liên quan đến ông T2, không uộc ông T2 cùng trả nợ với à T1. Ông T2 yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết không chấp nhận yêu cầu của à Đào Thị Kim T, uộc ông T2 liên đới cùng à T1 trả số tiền hụi 1.023.000.000 đồng, H ỏ iện pháp khẩn cấp tạm thời tại Quyết định số: 06/2025/QĐ-BPKCTT ngày 23/5/2025 của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp (Tòa án nhân dân dân khu vực 11 - Đồng Tháp).
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bà Nguyễn Thị Kiều T1 trình ày: Vẫn giữ kháng cáo, số tiền hốt các dây hụi của à Đào Thị Kim T thì ông Tôn Văn T2 không iết, số tiền hốt hụi tiêu xài cá nhân, đi du lịch, không phục vụ sinh hoạt gia đình, khi vỡ hụi ông T2 có trả cho à T 121.000.000 đồng, Tòa án cấp s thẩm chưa trừ số tiền này vào số tiền hụi còn nợ 1.023.000.000 đồng và không đồng ý uộc ông T2 có nghĩa vụ cùng trả nợ cho à T. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, sửa ản án s thẩm.
Ông Tôn Văn T2 trình ày: Vẫn giữ kháng cáo, ông T2 không iết việc bà Nguyễn Thị Kiều T1 tham gia ch i hụi của à Đào Thị Kim T, số tiền à T1 hốt hụi trả nợ riêng, không đem về phục vụ gia đình, ông không tham gia khui hụi và nhận tiền các dây hụi à T1 ch i với à T, ông chỉ tham gia một dây hụi, còn nợ 70.000.000 đồng, khi à T1 vỡ hụi ông có trả cho à T số tiền 121.000.000 đồng. Thửa đất 417, tờ ản đồ số 2, diện tích 7.326,5m2 do ông T2 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đất tọa lạc tại ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Tháp của cá nhân ông, không phải là tài sản chung của vợ chồng, hiện nay ông T2 và bà T1 không còn sống chung nhưng chưa ly hôn. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, sửa ản án s thẩm.
Chị Dư ng Thị Như Ý là người đại diện theo ủy quyền của à Đào Thị Kim T trình ày: Không thống nhất kháng cáo của à Nguyễn Thị Kiều T1, ông Tôn Văn T2. Sau khi vỡ hụi ông T2 có trả cho à T số tiền 121.000.000 đồng, số tiền này được trừ xong vào các dây hụi mà T1 và ông T2 tham gia ch i hụi, à T1 thừa nhận còn nợ à T số tiền 1.023.000.000 đồng, ông T2 nhắn tin zalo cho à T hứa trả mỗi vụ lúa từ 50.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng cho đến khi hết nợ, ông T2 và bà T1 là vợ chồng và ông T2 chuyển nhượng đất nhằm tẩu tán tài sản không thực hiện trả nợ. Tại phiên tòa bà T, chị Ý là người đại diện của à T đồng ý trừ số tiền 121.000.000 đồng vào số tiền 1.023.000.000 đồng, số tiền hụi còn lại 902.000.000 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát iểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về việc thụ lý vụ án, về thời hạn giải quyết vụ án. Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Các đư ng sự đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận một phần kháng cáo của à Nguyễn Thị Kiều T1, không chấp nhận kháng cáo của ông Tôn Văn T2, sửa một phần ản án dân sự s thẩm số: 18/2025/DS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Đồng Tháp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu và chứng cứ có trong hồ s , được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, lời phát iểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Xét đ n kháng cáo của à Nguyễn Thị Kiều T1, ông Tôn Văn T2 nộp trong thời hạn luật định. Căn cứ Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Tòa án cấp s thẩm xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp hợp đồng dân sự về hụi” thụ lý giải quyết phù hợp khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Xét kháng cáo của à T1 yêu cầu trừ số tiền 121.000.000 đồng ông T2 trả nợ giúp à T1, việc ch i hụi không liên quan đến ông T2, không uộc ông T2 cùng trả nợ với à T1.
Hội đồng xét xử xét thấy:
Bà T yêu cầu à T1 và ông T2 cùng liên đới trả số tiền hụi còn nợ 1.023.000.000 đồng, yêu cầu áp dụng iện pháp khẩn cấp tạm thời với hình thức phong tỏa tài sản thửa đất 417, tờ ản đồ số 2, do ông T2 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đất tọa lạc tại ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Trên c sở xem xét các tài liệu, chứng cứ và lời trình ày của các đư ng sự, giữa à T với à T1 và ông T2 tham gia ch i hụi với nhau, căn cứ vào các hợp đồng góp vốn xoay vòng, iên nhận do à T cung cấp à T1 tham gia ch i 16 dây hụi do à T làm chủ hụi, à T1 thừa nhận còn nợ tiền hụi của à T số tiền 1.023.000.000 đồng và đồng ý trả số tiền 1.023.000.000 đồng cho à T. Do đó, yêu cầu của à T là có c sở.
Bà T1 cho rằng chỉ một mình tham gia ch i hụi, ông T2 không iết, ông T2 tham gia một dây hụi do à T làm chủ hụi, ông T2 còn nợ à T 70.000.000 đồng. Tại iên ản đối chất và iên ản lấy lời khai à T1 trình bày ông T2 có tham gia ch i hụi với à T, ông T2 iết còn nợ à T số tiền hụi 1.023.000.000 đồng, ông T2 cùng với ông T3 là chồng à T đến Ủy an nhân dân xã H thỏa thuận trả tiền nợ hụi và ông T2 hứa mỗi mùa lúa trả cho à T số tiền 100.000.000 đồng cho đến khi hết nợ, khi à T1 vỡ hụi ông T2 đóng tiền hụi cho à T được 2 tháng số tiền 121.000.000 đồng và ông T2 nhắn tin zalo cho bà T “Bà ráng đi vụ lúa Hè Thu tui gửi cho bà từ 50t đến 100t. Chứ bây giờ tui không có tiền. Mong bà thông cảm”. Từ đó cho thấy ông T2 và bà T1 tham gia ch i hụi với bà T, ông T2 và bà T1 là vợ chồng, số tiền hốt hụi sử dụng vào mục đích đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình, nên ông T2 có nghĩa vụ cùng à T1 liên đới trả tiền nợ hụi cho à T là phù hợp.
Sau khi vỡ hụi ông T2 có đóng tiền hụi cho à T 121.000.000 đồng, Tòa án cấp s thẩm không trừ vào số tiền 1.023.000.000 đồng là chưa phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm à T, chị Ý là người đại diện của à T đồng ý trừ số tiền 121.000.000 đồng vào số tiền 1.023.000.000 đồng, số tiền hụi còn lại 902.000.000 đồng. Do đó, sửa một phần ản án dân sự s thẩm theo hướng tự nguyện của đư ng sự.
Xét kháng cáo của ông T2 yêu cầu giải quyết không chấp nhận yêu cầu của à T, uộc ông T2 liên đới cùng à T1 trả số tiền hụi 1.023.000.000 đồng, H ỏ iện pháp khẩn cấp tạm thời tại Quyết định số: 06/2025/QĐ-BPKCTT ngày 23/5/2025.
Hội đồng xét xử xét thấy:
Ông T2 cho rằng không iết à T1 ch i hụi với à T, không đồng ý liên đới trả cho à T số tiền hụi à T1 còn nợ, chỉ đồng ý trả cho à T số tiền hụi còn nợ 70.000.000 đồng và không đồng ý với yêu cầu áp dụng iện pháp khẩn cấp tạm thời của à T với hình thức phong tỏa tài sản đối với thửa đất 417, tờ ản đồ số 2, đất tại ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, vì đây là tài sản của cá nhân ông T2.
Bà T1 trình bày ông T2 iết à T1 còn nợ à T số tiền hụi 1.023.000.000 đồng, tại iên ản lấy lời khai ngày 23/5/2025 ông T2 trình bày “có tham gia chơi một chân hụi do bà Đào Thị Kim T là chủ hụi loại hụi mùa (4 tháng) khui hụi một lần 10.000.000 đồng, khui ngày 28/4/2022 âm lịch, gồm 16 phần tham gia chơi 2 phần (trong đó bà T1 01 phần, tôi 01 phần), vợ chồng tôi đã hốt xong hai phần, đến nay còn nợ bà T số tiền 140.000.000 đồng (trong đó vợ tôi còn nợ bà T số tiền 70.000.000 đồng, tôi còn nợ bà T số tiền 70.000.000 đồng”. Khi bà T1 không đóng tiền hụi thì ông T2 trực tiếp đóng tiền hụi cho à T được 2 tháng với số tiền 121.000.000 đồng, ông T2 thừa nhận có nhắn tin zalo cho à T “Bà ráng đi vụ lúa Hè Thu tui gửi cho bà từ 50t đến 100t. Chứ bây giờ tui không có tiền. Mong bà thông cảm”. Như vậy, ông T2 iết à T1 tham gia ch i hụi, còn nợ tiền hụi của à T, ông T2 và bà T1 là vợ chồng, nên ông T2 có nghĩa vụ liên đới cùng à T1 trả số tiền hụi còn nợ cho à T là phù hợp.
Thửa đất 417, tờ ản đồ số 2, do ông T2 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 05/11/2024, đây là tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân, thời điểm này ông T2 và bà T1 vẫn còn sống chung. Trong quá trình giải quyết à T phát hiện ông T2 tẩu tán tài sản, ông T2 ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất 417, tờ ản đồ số 2, diện tích 7.326,5m2 cho ông Tôn Văn T4 và bà Trần Kim N vào ngày 16/5/2025, cùng ngày 16/5/2025 bà T có đ n yêu cầu áp dụng iện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ đối với thửa đất 417, tờ ản đồ số 2, Tòa án cấp s thẩm tiếp tục duy trì Quyết định số: 06/2025/QĐ-BPKCTT ngày 23/5/2025 áp dụng iện pháp khẩn cấp tạm thời “phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ” thửa đất 417, tờ ản đồ số 2 để đảm ảo nghĩa vụ thi hành án là có căn cứ. Tuy nhiên, Tòa án cấp s thẩm tuyên kể từ ngày ản án này có hiệu lực pháp luật thì Quyết định áp dụng iện pháp khẩn cấp tạm thời số: 06/2025/QĐ-BPKCTT ngày 23/5/2025 ị hủy ỏ và khi ản án có hiệu lực pháp luật, à T được nhận lại 50.000.000 đồng tại Ngân hàng N1 - Chi nhánh huyện T theo Quyết định uộc thực hiện iện pháp ảo đảm số: 02/2025/QĐ-BPBĐ, ngày 23/5/2025 là chưa phù hợp.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy chấp nhận một phần kháng cáo của à T1, không chấp nhận kháng cáo của ông T2, sửa một phần ản án dân sự s thẩm số: 18/2025/DS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Đồng Tháp.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp là có căn cứ chấp nhận.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của à T1 được chấp nhận một phần nên không phải chịu án phí; kháng cáo của ông T2 không được chấp nhận phải chịu án phí.
Các phần còn lại của ản án s thẩm không ị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 và khoản 2 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần kháng cáo của à Nguyễn Thị Kiều T1.
2. Không chấp nhận kháng cáo của ông Tôn Văn T2.
3. Sửa một phần ản án dân sự s thẩm số: 18/2025/DS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Đồng Tháp.
3.1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của à Đào Thị Kim T đối với à Nguyễn Thị Kiều T1 và ông Tôn Văn T2.
Buộc à Nguyễn Thị Kiều T1 và ông Tôn Văn T2 có nghĩa vụ liên đới trả cho à Đào Thị Kim T số tiền hụi còn nợ 902.000.000 đồng (Chín trăm lẻ hai triệu đồng).
Kể từ ngày có đ n yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, ên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
3.2. Tiếp tục duy trì iện pháp khẩn cấp tạm thời tại Quyết định số: 06/2025/QĐ-BPKCTT ngày 23/5/2025 của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp (nay là Tòa án nhân dân khu vực 11 - Đồng Tháp) về áp dụng iện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ để đảm ảo thi hành án.
3.3. Về án phí dân sự s thẩm:
Bà Nguyễn Thị Kiều T1 và ông Tôn Văn T2 phải liên đới chịu 39.060.000 đồng (Ba mư i chín triệu không trăm sáu mư i nghìn đồng) tiền án phí dân sự s thẩm.
Bà Đào Thị Kim T không phải chịu tiền án phí dân sự s thẩm, được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp 21.345.000 đồng (Hai mư i mốt triệu a trăm ốn mư i lăm nghìn đồng) theo iên lai thu số: 0007248, ngày 20/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 11 - Đồng Tháp).
4. Về án phí dân sự phúc thẩm:
Bà Nguyễn Thị Kiều T1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, được nhận lại 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí kháng cáo đã nộp theo iên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0002399, ngày 12/9/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp.
Ông Tôn Văn T2 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí kháng cáo đã nộp theo iên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0002401, ngày 12/9/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp.
Trường hợp ản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc ị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Các phần còn lại của ản án s thẩm không ị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Phòng KT - TT & THA TAND tỉnh Đồng Tháp; - VKSND tỉnh Đồng Tháp; - TAND khu vực 11 - Đồng Tháp; - Phòng THADS khu vực 11 - Đồng Tháp; - Đư ng sự; - Lưu: VT, TDS, HSVA (Dũng). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Chí Dững |