- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo hoặc xin giảm nhẹ hình phạt - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức P. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 25/2025/HS-ST ngày 13 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện U Minh (nay thuộc Tòa án nhân dân khu vực 2 – Cà Mau) về phần hình phạt.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 67/2025/HS-PT Ngày: 15-7-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Quế
Các Thẩm phán:
Ông Trịnh Xuân Miễn
Ông Huỳnh Văn Út
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Hải Sơn, là Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thanh Mộng - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 74/2025/TLPT-HS ngày 23 tháng 6 năm 2025 đối với các bị cáo Nguyễn Đức P và Huỳnh Văn Q do có kháng cáo của bị cáo P đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 25/2025/HS-ST ngày 13 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện U Minh (nay thuộc Tòa án nhân dân khu vực 2 - Cà Mau).
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Đức P, sinh ngày 22/5/1991 tại Vĩnh Long; nơi đăng ký thường trú: Ấp Đ, xã Đ, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long; chỗ ở khác: Đường L, khóm H, phường H, thành phố C, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và bà Lê Thị Kiều T; vợ tên Lê Thị S và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại có mặt.
- Bị hại (đồng thời cũng là bị cáo trong vụ án): Ông Huỳnh Văn Q, sinh ngày 01/01/1989 (có mặt).
Nơi cư trú: Ấp H, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 45 phút, ngày 22/11/2024, Nguyễn Đức P điều khiển xe tải BKS 69C-066.62 từ nhà kho của Đại lý thức ăn gia súc, gia cầm Đỗ Minh Đ để giao hàng đến nhà kho của Cơ sở kinh doanh Nguyễn Dương. Quá trình giao hàng và nhận tiền đơn hàng thì xảy mâu thuẫn với Huỳnh Văn Q, nhân viên của cửa hàng. Khi P lên xe để đi về thì Q dùng tay đánh vào lưng P một cái, P không đánh lại mà lên xe và điểu khiển xe chạy đi.
Khi đi đến ngã tư dưới dốc cầu G thuộc ấp D, xã K thì Q chạy xe qua, dừng xe lại sát lề lộ; P và Q tiếp tục dùng lời nói thách thức nhau. Qui vừa nói vừa đi lấy một tấm ván gỗ (dài 1,083m, rắn chắc) cặp lề lộ, còn P thấy 01 cây dao (dài 30cm, lưỡi màu sáng trắng, mũi bầu nhọn, cán nhựa màu nâu giả gỗ) trên vách ngăn cửa tài xế nên cầm lấy, mở cửa xe xuống đi về phía Q. Q dùng hai tay cầm tấm ván gỗ, đánh từ trên xuống trúng vào đầu của P gây thương tích, Q tiếp tục đánh nhiều cái trúng vào chân và người P. Vì bị Q đánh liên tục nên P cầm dao trên tay phải chém nhiều cái về phía Q, đến khi thấy Q bị thương, chảy nhiều máu ở vùng cổ thì Phú ngừng lại, bỏ chạy nhưng Q vẫn tiếp tục rượt theo P. Lúc này, Dương Nhựt H1 (nhân viên Cơ sở kinh doanh N) đến can ngăn thì Q mới ngừng lại. Sau đó, Q được đưa đi điều trị thương tích, còn P ở lại hiện trường để trình báo vụ việc với Công an xã K và được đưa đến Trạm Y tế để điều trị thương tích. Vụ việc được Công an xã K tiếp nhận và chuyển toàn bộ hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện U thụ lý theo thẩm quyền. Đến ngày 15/01/2025, P có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với Huỳnh Văn Q.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 03/KLTTCT-TTPY, ngày 07/01/2025, của Trung tâm Pháp y tỉnh C đối với Huỳnh Văn Q kết luận:
- Vết sẹo vùng cổ trái kích thước 13cm x 0,2cm, đứt cơ ức đòn chũm trái đã khâu nối hiện tại hạn chế ngửa cổ và xoay cổ: 11%. Do vật sắc hoặc vật sắc ngọn gây ra.
- Vết sẹo cạnh cột sống D12 phải kích thước 6,2cm x 0,4cm: 02%. Do vật sắc hoặc vật sắc nhọn gây ra.
- Vết sẹo vùng hông lưng trái kích thước 21cm x 0,3cm: 02%. Do vật sắc hoặc vật sắc nhọn gây ra.
- Vết sẹo vùng vai – cánh tay trái kích thước 1,5cm x 0,4cm: 01. Do vật sắc hoặc vật sắc nhọn gây ra.
- Vết sẹo vùng vai – cánh tay trái kích thước 4,2cm x 0,5cm: 02%. Do vật sắc hoặc vật sắc nhọn gây ra.
- Vết sẹo vùng vai – cánh tay trái kích thước 07cm x 0,3cm: 02%. Do vật sắc hoặc vật sắc nhọn gây ra.
Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Huỳnh Văn Q tại thời điểm giám định là: 19%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
2.2. Kết luận khác:
- Các thương tích do vật sắc hoặc vật sắc nhọn tác động lên bề mặt cơ thể theo chiều hướng từ ngoài vào trong, chếch từ trên xuống dưới làm tổn thương da, mô dưới da, cân, cơ, mạch máu. Sau khi điều trị để lại thương tích như trên.
Các thương tích trên cơ thể Huỳnh Văn Q xảy ra cùng thời điểm với nhau.”
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 02/KLTTCT-TTPY, ngày 07/01/2025, của Trung tâm Pháp y tỉnh C đối với Nguyễn Đức P, kết luận:
- 01 vết sẹo vùng trán đỉnh trong chân tóc kích thước 4,7cm x 0,3cm: 02%. Do vật tày, vật tày có cạnh gây ra.
Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Đức P tại thời điểm giám định là: 02%.
2.2. Kết luận khác:
- Thương tích do vật tày, vật tày có cạnh tác động lên bề mặt cơ thể theo hướng từ ngoài vào trong và chếch từ trên xuống dưới làm tổn thương da, mô liên kết dưới da để lại thương tích như trên. Thương tích của ông Nguyễn Đức P có thời gian phù hợp với ghi nhận của Trạm Y tế xã K.”
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 25/2025/HS-ST ngày 13/5/2025, Tòa án nhân dân huyện U Minh đã quyết định: Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo P 01 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Ngoài ra, án sơ thẩm còn xử lý phần trách nhiệm dân sự, vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 20/5/2025, bị cáo P kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo vẫn giữ nguyên kháng cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau đề nghị: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 25/2025/HS-ST ngày 13/5/2025 của Tòa án nhân dân huyện U Minh về việc giảm hình phạt cho bị cáo từ 03 tháng đến 06 tháng tù.
- Ông Qui trình B: Đề nghị chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Bị hại đã nhận xong toàn bộ số tiền bị cáo có nghĩa vụ bồi thường.
- Lời nói sau cùng của bị cáo: Thừa nhận hành vi phạm tội, xin được giảm nhẹ hình phạt, được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Đức P khai nhận hành vi phạm tội là phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ. Cụ thể: Khoảng 14 giờ 20 phút ngày 22/11/2024 tại ấp D, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau, sau khi xảy ra mâu thuẫn cãi vã trong việc giao hàng và nhận tiền đơn hàng giữa tài xế của Đ1, gia cầm Đỗ Minh Đ với nhân viên Cơ sở kinh doanh Nguyễn D, Huỳnh Văn Q (là nhân viên của Cơ sở N) có hành vi dùng tấm ván gỗ đánh gây thương tích cho Nguyễn Đức P (là tài xế của Đại lý Đỗ Minh Đ) với tỷ lệ thương tích 02%; P dùng cây dao chém nhiều nhát vào người Q gây thương tích với tỷ lệ thương tích 19%. Tại phiên tòa sơ thẩm, P rút đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với Q. Với các tình tiết này, Tòa án nhân dân huyện U Minh đã đình chỉ vụ án đối với Q, xét xử bị cáo P về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội thuộc trường hợp tội phạm nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm sức khỏe của người khác, ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo gây thương tích cho người khác vi phạm pháp luật hình sự, phạm tội thì bị xử lý và phải chịu hình phạt theo quy định.
Khi xét xử, cấp sơ thẩm đã có xem xét và đánh giá tính chất của vụ án, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo, gồm: Đã bồi thường được một phần thiệt hại; Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Cha mẹ bị cáo là người tham gia cách mạng được hưởng chế độ của nhà nước; Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Trong 06 vết thương mà bị cáo gây ra cho bị hại, bị hại bị thương tích tại vùng cổ là vùng trọng yếu trên cơ thể với tỷ lệ 11%. Do đó, việc cấp sơ thẩm xử phạt tù đối với bị cáo là cần thiết và mức hình phạt 01 năm 06 tháng tù đối với bị cáo là tương xứng. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, bị hại thừa nhận sự việc xảy ra có một phần lỗi của bị hại, bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại. Do đó, cần giảm nhẹ một phần hình phạt tù cho bị cáo là phù hợp.
Đối với số tiền 13.500.000 đồng bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại ở giai đoạn xét xử phúc thẩm được ghi nhận.
Với các phân tích nêu trên, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau được chấp nhận.
Do sửa án sơ thẩm, nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần khác của án sơ thẩm không bị kháng cáo hoặc bị kháng nghị, đã có hiệu lực thi hành kể từ khi hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136, điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự; Khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức P. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 25/2025/HS-ST ngày 13 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện U Minh (nay thuộc Tòa án nhân dân khu vực 2 – Cà Mau) về phần hình phạt.
2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức P 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
3. Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau; - Công an tỉnh Cà Mau; - Tòa án nhân dân khu vực 2-CM; - Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2-CM; - Công an phường Đông Thành; - Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2-CM; - Bị cáo, người tham gia tố tụng khác; - Lưu: Hồ sơ vụ án, Tòa HS, án văn, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Trọng Quế |