- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn thị Ch - Phan Văn T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Nguyễn Thị C đối với anh Phan Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 67/2025/HNGĐ-ST Ngày 21 - 5 - 2025 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Thị Nguyện.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Vân;
Ông Lê Văn Lài
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hiệp - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Trần Nguyễn Quỳnh Như - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 166/2025/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2025 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1980; địa chỉ: ấp S, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh, (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Bị đơn: Anh Phan Văn T, sinh năm 1975; địa chỉ: ấp S, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh, (có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị C trình bày: Chị và anh Phan Văn T chung sống với nhau và đăng ký kết hôn ngày 07/10/2003 tại UBND xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2008 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng và ly thân từ tháng 01/2025 cho đến nay. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên gây gỗ, cãi vã; mỗi lần cãi nhau anh T hăm dọa đòi giết chị; do các con còn nhỏ nên chị nhẫn nhịn chịu đựng đợi các con khôn lớn. Đầu năm 2025 vợ chồng cãi vã, anh T hăm dọa giết chị nên chị bỏ về nhà cha mẹ sống cho đến nay; anh T và con út ở nhà riêng của anh chị. Từ khi ly thân anh T không đến nhà cha mẹ chị để nói chuyện hàn gắn mâu thuẫn, thỉnh thoảng chị về qua nhà thì anh T kêu chị về ở lại nhưng chị không đồng ý. Tình cảm vợ chồng không còn nữa, cuộc sống chung không hạnh phúc, mâu thuẫn đã trầm trọng không thể quay về chung sống lại với nhau; chị làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh xem xét giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.
Về con chung: Anh chị có 03 con chung, cháu Phan Thảo V, sinh ngày 07/7/2004 và cháu Phan Tường V1, sinh ngày 16/9/2005 đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị C đồng ý giao cháu Phan Gia H, sinh ngày 02/7/2008 cho anh T nuôi dưỡng, không cấp dưỡng nuôi con do anh T không yêu cầu.
Tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Phan Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do, không có văn bản trình bày ý kiến.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý đến khi giải quyết vụ án. Các đương sự chấp hành đầy đủ các quy định pháp luật trong quá trình tham gia tố tụng.
- Về nội dung:
+ Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Nguyễn Thị C được ly hôn với anh Phan Văn T.
+ Về con chung: Có 03 con chung, cháu Phan Thảo V, sinh ngày 07/7/2004 và cháu Phan Tường V1, sinh ngày 16/9/2005 đã trưởng thành không đặt ra giải quyết. Giao cháu Phan Gia H, sinh ngày 02/7/2008 cho anh T nuôi dưỡng. Chị C không cấp dưỡng nuôi con do anh T không yêu cầu.
+ Về tài sản, nợ chung: Chị C không yêu cầu Tòa án giải quyết
Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị C có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Phan Văn T, cư trú tại: Ấp S, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Chị Nguyễn Thị C và anh Phan Văn T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng chị C, anh T.
Về quan hệ hôn nhân: Chị C và anh T chung sống với nhau có đăng ký kết hôn ngày 07/10/2003 tại UBND xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh, nên quan hệ hôn nhân giữa chị C và anh T là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Qua lời trình bày của chị C thấy rằng: Sau khi kết hôn thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2008 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng và ly thân từ đầu năm 2025 cho đến nay. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, anh T hăm dọa giết chị nên chị bỏ về nhà cha mẹ sinh sống; vợ chồng thiếu sự chia sẻ, bỏ mặc nhau, vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng; không còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, làm cho tình trạng hôn nhân mâu thuẫn trầm trọng, không thể hàn gắn về sống chung lại. Anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không có mặt thể hiện không có thiện chí muốn đoàn tụ vợ chồng. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy, tình cảm vợ chồng giữa chị C, anh T không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị C đối với anh T là phù hợp theo quy định tại Điều 19, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Có 03 con chung, cháu Phan Thảo V, sinh ngày 07/7/2004 và cháu Phan Tường V1, sinh ngày 16/9/2005 đã trưởng thành không đặt ra giải quyết. Từ khi ly thân đến nay, cháu Phan Gia H, sinh ngày 02/7/2008 sống chung với anh T và có nguyện vọng sống với anh T. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy giao cháu H cho anh T chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Ghi nhận anh T không yêu cầu chị C cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị C không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Chị Nguyễn Thị C phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng; anh T không phải chịu án phí.
Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành là có căn cứ và phù hợp với quy định pháp luật nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 19, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Nguyễn Thị C đối với anh Phan Văn T.
Chị Nguyễn Thị C được ly hôn với anh Phan Văn T.
2. Về con chung: Có 03 con chung, cháu Phan Thảo V, sinh ngày 07/7/2004 và cháu Phan Tường V1, sinh ngày 16/9/2005 đã trưởng thành không đặt ra giải quyết. Giao cháu Phan Gia H, sinh ngày 02/7/2008 cho anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị C không phải cấp dưỡng nuôi con do anh T không yêu cầu.
Sau khi ly hôn, chị Nguyễn Thị C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị C không yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản và nợ chung khi ly hôn.
4. Về án phí: chị Nguyễn Thị C phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0006354 ngày 28 tháng 3 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. Chị C đã nộp đủ án phí.
Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Phòng KTNV. TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND huyện Châu Thành; - Chi cục THADS huyện Châu Thành; - Đương sự; - Cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ĐÃ KÝ) Lâm Thị Nguyện |