- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng trao đổi tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 67/2025/DS-ST Ngày: 30-9-2029 V/v “Tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Kiều Diễm
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Tâm
2. Ông Nguyễn Minh Hoàng
- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Quốc Đại, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 – Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Cà Mau tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thuý Duy – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 – Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 150/2025/TLST–DS ngày 20 tháng 3 năm 2025 về “Tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 134/2025/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty cổ phần SAWAD T
Địa chỉ: 128 Nguyễn Du, phường Bến Thuỷ, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
Người đại diện theo uỷ quyền: Anh Đặng Văn Bình, sinh năm 1984
Địa chỉ: Khóm 1, phường Hộ Phòng, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Anh Trịnh Văn Đ, sinh năm 1991.
Địa chỉ: Ấp Bửu 1, xã Đông Hải, tỉnh Cà Mau.
(Đại diện nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và bản tự khai đại diện nguyên đơn trình bày:
Ngày 15/5/2024, Công ty cổ phần SAWAD T (công ty) có ký hợp đồng cầm cố tài sản số RLHJA3937PY101919 với anh Trịnh Văn Đ, theo đó công ty cầm cố 01 xe mô tô hai bánh biển kiểm soát 94B1-677.17, thời hạn vay 6 tháng, lãi suất 1.1%/năm, kỳ hạn trả nợ gốc và lãi trả cố định hàng tháng.
Công ty đã cầm cố xe với số tiền 12.925.532 đồng. Do có nhu cầu cần có xe đi lại hàng ngày nên Công ty có ký giấy cho anh Trịnh Văn Đ mượn lại xe sử dụng. Trong giấy mượn xe từ ngày 15/5/2024 đến ngày 15/6/2024 địa điểm trả xe là là tại chi nhánh Giá Rai. Quá trình làm việc anh Trịnh Văn Đ cam kết rõ trong giấy mượn xe “Hoàn trả đúng thời gian quy định như đã thoả thuận”.
Quá trình trả nợ, chưa thanh toán đúng nghĩa vụ hợp đồng của công ty. Hiện nay anh Trịnh Văn Đ còn nợ lại công ty số tiền 16.580.646 đồng (trong đó vốn 9.056.136 đồng, lãi 601.026 đồng, Phí các loại là 5.509.335 đồng, chi phí tố tụng 1.414.149 đồng).
Kể từ ngày 12/2/2025, anh Trịnh Văn Đ không trả nợ đúng hạn, phát sinh nợ quá hạn, vi phạm Hợp đồng cầm cố nhiều lần, công ty đã làm việc với anh Trịnh Văn Đ nhưng anh Trịnh Văn Đ vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Tính đến ngày 12/02/2025 anh Trịnh Văn Đ còn nợ số tiền: 16.580.646 đồng (trong đó vốn 9.056.136 đồng, lãi 601.026 đồng, Phí các loại là 5.509.335 đồng, chi phí tố tụng 1.414.149 đồng).
Do anh Trịnh Văn Đ đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng đã ký nên công ty yêu cầu anh Trịnh Văn Đ trả số tiền 16.580.646 đồng (trong đó vốn 9.056.136 đồng, lãi 601.026 đồng, Phí các loại là 5.509.335 đồng, chi phí tố tụng 1.414.149 đồng) yêu cầu trả tiền lãi phát sinh theo hợp đồng đã ký kết cho đến khi trả dứt nợ.
Ngày 18/7/2025, đại diện của công ty có rút lại 01 phần yêu cầu khởi kiện, hiện nay yêu cầu anh Trịnh Văn Đ hoàn trả lại số tiền 9.657.162 đồng trong đó vốn 9.056.136 đồng, lãi 601.026 đồng) và yêu cầu trả tiền lãi phát sinh theo hợp đồng đã ký kết cho đến khi trả dứt nợ.
Do anh Trịnh Văn Đ đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng đã ký nên công ty yêu cầu anh Trịnh Văn Đ trả số tiền 9.657.162 đồng trong đó vốn 9.056.136 đồng, lãi 601.026 đồng) và yêu cầu trả tiền lãi phát sinh theo hợp đồng đã ký kết cho đến khi trả dứt nợ.
- Đối với bị đơn anh Trịnh Văn Đ: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cũng nhưng triệu tập anh Trịnh Văn Đ tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng anh Trịnh Văn Đ vắng mặt không rõ lý do.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến và đề nghị:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa.
Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt; căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự giải quyết vắng mặt bị đơn.
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 và khoản 3 Điều 228, khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 309, Điều 310, Điều 311, Điều 316 và 494 Bộ luật dân sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần SAWAD T đối với anh Trịnh Văn Đ.
Buộc anh Trịnh Văn Đ giao trả cho Công ty cổ phần SAWAD T số tiền tổng số tiền 9.657.162 đồng trong đó vốn 9.056.136 đồng, lãi 601.026 đồng). (tính đến ngày 12/02/2025) và tiếp tục trả lãi phát sinh theo hợp đồng cầm cố đã ký cho đến khi dứt nợ.
Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu của Công ty cổ phần SAWAD T, yêu cầu anh Trịnh Văn Đ giao trả số tiền 6.923.484 đồng.
Án phí: Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch anh Trịnh Văn Đ phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Cà Mau về tuân theo pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng:
Công ty cổ phần SAWAD T khởi kiện yêu cầu anh Trịnh Văn Đ giải quyết tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản đối với bị đơn cầu anh Trịnh Văn Đ cư trú tại ấp Bửu 1, xã Long Điền Đông, huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu (nay là ấp Bửu 1, xã Đông Hải, tỉnh Cà Mau). Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đông Hải (nay là Toà án nhân dân khu vực 8 – Cà Mau.
Đại diện Công ty cổ phần SAWAD T có đơn đề nghị vắng mặt và anh Trịnh Văn Đ vắng mặt lần thứ hai. Căn cứ vào khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt đương sự nêu trên.
Đại diện Công ty cổ phần SAWAD T có khởi kiện yêu anh Trịnh Văn Đ trả số tiền 16.580.646 đồng (trong đó vốn 9.056.136 đồng, lãi 601.026 đồng, Phí các loại là 5.509.335 đồng, chi phí tố tụng 1.414.149 đồng).
Tuy nhiên đến ngày 18/7/2025 công ty có đơn rút lại một phần yêu cầu khởi kiện rút lại yêu cầu là 6.923.484 đồng, chỉ yêu cầu trả số tiền 9.657.162 đồng trong đó vốn 9.056.136 đồng, lãi 601.026 đồng). Đây là sự tự nguyện của đương sự và phù hợp quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Căn cứ Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đình chỉ đối với yêu cầu mà công ty đã rút.
. Về nội dung:
Xét thấy, do anh Trịnh Văn Đ cố tình vắng mặt, xem như anh tự từ bỏ quyền tham gia tố tụng. Vì vậy, Công ty cổ phần SAWAD T tiền có ngay có quyền, nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để chứng minh cho lời trình bày của mình là có căn cứ và hợp pháp. Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện, Công ty cổ phần SAWAD T cung cấp: Hợp đồng cầm cố; Phiếu đăng ký cầm cố xe máy; Giấy mượn xe; căn cước công dân; giấy chứng nhận đăng ký xe của anh Trịnh Văn Đ.
Như vậy, căn cứ theo nội dung trong hợp đồng cầm cố xe và các giấy tờ nêu trên có đủ cơ sở để xác định vào ngày 15/05/2024 anh Trịnh Văn Đ có ký hợp đồng cầm cố chiếc xe 01 xe mô tô hai bánh biển kiểm soát 94B1-677.17, số giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy 001371 do công an huyện Đông Hải cấp, cầm cố cho Công ty cổ phần SAWAD T với số tiền 12.925.532 đồng, lãi suất 1,1%/tháng. Đây là tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản được quy định tại Điều 309 Bộ luật dân sự 2015, nên khi phát sinh tranh chấp được Bộ luật này Điều chỉnh. Công ty cổ phần SAWAD T chứng minh được việc anh Trịnh Văn Đ có cầm số xe cho công ty với số tiền là 12.925.532 đồng, đã trả được một phần gốc cho Công ty cổ phần SAWAD T. Từ ngày 12/02/2025 cho đến nay anh Trịnh Văn Đ không thực hiện nghĩa vụ đúng hạn, đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận tại hợp đồng, đã xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty. Do đó, Công ty cổ phần SAWAD T tiền có ngay khởi kiện đối với anh Trịnh Văn Đ là có căn cứ.
Mặc dù các khoản nợ hiện nay đã quá hạn thanh toán nhưng bị đơn cũng không có thiện chí thanh toán nợ cho Công ty. Đại diện nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc anh Trịnh Văn Đ có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty cổ phần SAWAD T số tiền theo hợp đồng tính đến ngày 12/02/2025 là 9.657.162 đồng (trong đó vốn 9.056.136 đồng, lãi 601.026 đồng). Anh Trịnh Văn Đ còn có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty tiền lãi phát sinh kể từ ngày 13/2/2025 cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ theo các hợp đồng đã ký kết.
. Về án phí dân sự sơ thẩm: Công ty cổ phần SAWAD T không phải nộp án phí. Số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng Công ty cổ phần SAWAD T đã nộp ngày 20/3/2025 theo biên lai thu số 0006639 được hoàn lại đủ. Anh Trịnh Văn Đ phải nộp án phí số tiền 482.858 đồng. Các đương sự nộp và nhận tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 8 – Cà Mau.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 và khoản 3 Điều 228, khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 309, Điều 310, Điều 311, Điều 316 và 494 Bộ luật dân sự 2015;
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu của Công ty cổ phần SAWAD T, yêu cầu anh Trịnh Văn Đ giao trả số tiền 6.923.484 đồng.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần SAWAD T đối với anh Trịnh Văn Đ.
Buộc anh Trịnh Văn Đ giao trả cho Công ty cổ phần SAWAD T số tiền tổng số tiền 9.657.162 đồng trong đó vốn 9.056.136 đồng, lãi 601.026 đồng) (tính đến ngày 12/02/2025) và tiếp tục trả lãi phát sinh theo hợp đồng cầm cố đã ký cho đến khi dứt nợ.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Công ty cổ phần SAWAD T không phải nộp án phí. Số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng Công ty cổ phần SAWAD T đã nộp ngày 20/3/2025 theo biên lai thu số 0006639 được hoàn lại đủ. Anh Trịnh Văn Đ phải nộp án phí số tiền 482.858 đồng. Các đương sự nộp và nhận tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 8 – Cà Mau.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai, các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND khu vực 8 – Cà Mau; - Phòng THADS khu vực 8 – Cà Mau; -TAND tỉnh Cà Mau; - Lưu: HS; VT-TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Kiều Diễm |