vanban.org

Bản án 67/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1 - Xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị V và anh Mai Văn Q.

2 - Về con chung: Giao cháu Mai Đức T, sinh ngày 01/11/2016 cho anh Mai Văn Q trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Giao cháu Mai Hải Đ, sinh ngày 16/5/2018 cho chị Nguyễn Thị V trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Không bên nào phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung. Không ai được ngăn cản quyền chăm sóc, giáo … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn giữa chị V và anh Q"
  • Tòa quyết gì? 1 - Xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị V và anh Mai Văn Q.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGHĨA HƯNG
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67/2024/HNGĐ - ST
Ngày: 23 - 5 - 2024.
V/v ly hôn giữa chị V và anh Q.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA HƯNG TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Dương.

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Đức Chạc.

2. Ông Vũ Mạnh Toàn.

- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Tuấn Tú – Thư ký Toà án nhân dân huyện Nghĩa Hưng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng tham gia phiên tòa: Ông Trần Thế Hùng – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nghĩa Hưng mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 15/2024/TLST - HNGĐ ngày 05 tháng 02 năm 2024. Về tranh chấp xin ly hôn theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số: 13/2024/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

+ Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị V – Sinh năm 1990. Địa chỉ: Xóm B, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định.

+ Bị đơn: Anh Mai Văn Q – Sinh năm 1985. Địa chỉ: Xóm B, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định.

Tại phiên tòa vắng mặt chị V, anh Q.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại phiên toà hôm nay chị Nguyễn Thị V vắng mặt nhưng chị V có đơn xin xét xử vắng mặt. Trong đơn khởi kiện cũng như lời khai chị Nguyễn Thị V tại những buổi làm việc với Tòa án thể hiện: Chị kết hôn với anh Mai Văn Q vào tháng 3/2016 trên cơ sở tự nguyện, Đ ký kết hôn tại UBND xã Nghĩa Hùng, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định. Sau khi kết hôn vợ chồng vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2021 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân, dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm T. Mặc dù đã được hai bên gia đình động viên khuyên bảo nhưng tình cảm vợ chồng vẫn không được cải thiện. Đến tháng 02/2023 thì vợ chồng chị đã sống ly thân cho đến nay. Nay chị xác định tình cảm giữa chị và anh Q không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị V đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng xem xét giải quyết cho chị được ly hôn với anh Mai Văn Q.

Về con chung: Giữa chị và anh Q có hai con chung là cháu Mai Đức T, sinh ngày 01/11/2016 và cháu Mai Hải Đ, sinh ngày 16/5/2018. Hiện cháu T đang do anh Q chăm sóc nuôi dưỡng còn cháu Đ đang do chị chăm sóc nuôi dưỡng. Ly hôn chị xin nhận trực tiếp nuôi hai con và không yêu cầu anh Q phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.

Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về án phí chị đề nghị giải quyết theo quy định.

Tại phiên tòa hôm nay anh Mai Văn Q vắng mặt. Lời khai của anh Mai Văn Q tại các buổi làm việc với Tòa án thể hiện: Anh kết hôn với chị Nguyễn Thị V vào tháng 3/2016 trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn tại UBND xã Nghĩa Hùng. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến đầu năm 2021 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, chị V không có trách nhiệm với gia đình anh. Mặc dù anh đã nhiều lần khuyên bảo nhưng chị V vẫn không thay đổi dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm T. Đến tháng 02/2023 thì vợ chồng anh sống ly thân nhau từ đó cho đến nay. Nay chị V xin ly hôn anh thì anh không nhất trí ly hôn vì anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, con còn nhỏ, anh mong muốn chị V suy nghĩ lại về đoàn tụ với gia đình.

Về con chung: Giữa anh và chị V có hai con chung là cháu Mai Đức T, sinh ngày 01/11/2016 và cháu Mai Hải Đ, sinh ngày 16/5/2018. Hiện cháu T đang do anh chăm sóc nuôi dưỡng còn cháu Đ đang do chị V chăm sóc nuôi dưỡng. Nếu vợ chồng phải ly hôn thì anh xin nhận trực tiếp nuôi cháu T và để chị V nuôi cháu Đ. Không bên nào phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án cháu Mai Đức T trình bày: Gia đình cháu có hai anh em, cháu là con thứ nhất. Từ khi bố mẹ ly thân cháu ở với bố cháu. Nếu bố mẹ ly hôn cháu xin ở với bố.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:

+ Về tố tụng: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến xét xử tại phiên toà hôm nay Thẩm phán thụ lý giải quyết cũng như Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 56; 81; 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 6 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc: Xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị V và chị Mai Văn Q; Về con chung: Giao cháu Mai Đức T, sinh ngày 01/11/2016 cho anh Mai Văn Q trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng; giao cháu Mai Hải Đ, sinh ngày 16/5/2018 cho chị Nguyễn Thị V trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Không bên nào phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung; Về án phí dân sự sơ thẩm: chị V phải nộp theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào lời trình bày của đương sự và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị V và anh Mai Văn Q đều cư trú tại xã Nghĩa Hùng, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định. Nay chị Nguyễn Thị V xin ly hôn anh Mai Văn Q thì Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.

Tại phiên tòa hôm nay chị Nguyễn Thị V và anh Mai Văn Q vắng mặt nhưng chị V có đơn xin giải quyết vắng mặt và anh Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị V và anh Q là phù hợp với Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Cuộc hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị V và anh Mai Văn Q vào tháng 3 năm 2016 trên cơ sở tự nguyện, Đ ký kết hôn tại UBND xã Nghĩa Hùng là một hôn nhân tự do, tiến bộ và có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn vợ chồng vợ chồng hạnh phúc, đến năm 2021 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng về quan điểm không hiểu nhau. Đến tháng 02/2023 thì vợ chồng chị V anh Q sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay chị V xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng giải quyết vợ chồng được ly hôn. Phía anh Q không nhất trí ly hôn vì anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, con còn nhỏ, anh mong muốn chị V suy nghĩ lại về đoàn tụ với gia đình. Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa có quan điểm xử ly hôn giữa chị V và anh Q.

Hội đồng xét xử thấy: Trên thực tế mâu thuẫn vợ chồng giữa chị V và anh Q đã kéo dài và ngày một trầm T, hôn nhân đã tan vỡ, nay chị V xin ly hôn anh Q nên chấp nhận là phù hợp. Phía anh Q không nhất trí ly hôn vì anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, con còn nhỏ, anh mong muốn chị V suy nghĩ lại về đoàn tụ với gia đình nhưng anh Q cũng xác định vợ chồng đã sống ly thân nhau từ tháng 02/2023 cho đến nay. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tạo điều kiện cho hai bên hòa giải nhưng vợ chồng chị V anh Q vẫn sống ly thân nhau không ai quan tâm đến ai nên khả năng đoàn tụ là không còn, vì vậy không được chấp nhận.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị V và anh Mai Văn Q đều thống nhất xác định vợ chồng có hai con chung là cháu Mai Đức T, sinh ngày 01/11/2016 và cháu Mai Hải Đ, sinh ngày 16/5/2018. Hiện cháu T đang do anh Q chăm sóc nuôi dưỡng còn cháu Đ đang do chị V chăm sóc nuôi dưỡng. Ly hôn chị V xin nhận trực tiếp nuôi hai con và không yêu cầu anh Q phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Phía anh Q có quan điểm nếu vợ chồng phải ly hôn thì anh xin nhận trực tiếp nuôi cháu T và để chị V nuôi cháu Đ. Không bên nào phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung.

Hội đồng xét xử thấy: Từ khi vợ chồng chị V anh Q sống ly thân cháu T đang do anh Q chăm sóc nuôi dưỡng còn cháu Đ đang do chị V chăm sóc nuôi dưỡng. Trong quá trình giải quyết vụ án cháu T có nguyện vọng muốn ở với anh Q. Mặt khác, hiện chị V và anh Q đều làm lao động tự do nên có điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng con như nhau. Vì vậy, giao cháu Mai Đức T, sinh ngày 01/11/2016 cho anh Mai Văn Q trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng; giao cháu Mai Hải Đ, sinh ngày 16/5/2018 cho chị Nguyễn Thị V trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp.

Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị V và anh Mai Văn Q đều thống nhất không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm chị Nguyễn Thị V phải nộp theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng là phù hợp.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 56; 81; 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 147; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 6 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

1 - Xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị V và anh Mai Văn Q.

2 - Về con chung: Giao cháu Mai Đức T, sinh ngày 01/11/2016 cho anh Mai Văn Q trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Giao cháu Mai Hải Đ, sinh ngày 16/5/2018 cho chị Nguyễn Thị V trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Không bên nào phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung. Không ai được ngăn cản quyền chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng và thăm nom con chung.

3 - Án phí dân sự sơ thẩm chị Nguyễn Thị V phải nộp 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị V đã nộp theo biên lai số 0001323 ngày 05/02/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Nghĩa Hưng, chị V đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Người vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ