- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Bé D - Ngô Minh H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Bé D đối với bị đơn anh Ngô Minh H về ly hôn, tranh chấp nuôi con.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 67/2024/HNGĐ-ST. Ngày: 18-6-2024. V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Minh Hoàng.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lê Thị Ánh Sáng.
2. Ông Phan Công Minh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Lan Anh - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Long Thành.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Tình - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 140/2024/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2024 về ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 87/2024/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Bé D, sinh năm 1997.
Nơi đăng ký thường trú: Tổ C, Ấp A, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ: Ấp T, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
- Bị đơn: Anh Ngô Minh H, sinh năm 1993.
Địa chỉ: Tổ C, Ấp A, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
(Chị D, anh H vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện ngày 02/01/2024, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Bé D trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Ngô Minh H tìm hiểu và đăng ký kết hôn vào ngày 16/9/2020 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Trong thời gian chung sống không hạnh phúc. Từ năm 2022 đến năm 2023, vợ chồng chị thường cãi nhau. Anh H bạo lực, đánh đập chị, lấy điện thoại và căn cước công dân của chị. Vợ chồng chị đã ly thân từ ngày 10/01/2024. Hiện tại, chị đang sống cùng ba mẹ ruột tại xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
Về con chung: Có 01 con chung tên Ngô Bảo T, sinh ngày 08/4/2021. Hiện tại anh H đang nuôi dưỡng, chị đồng ý giao con chung cho anh H nuôi dưỡng và sẽ cấp dưỡng theo khả năng.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
2. Bị đơn anh Ngô Minh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có ý kiến trình bày.
3. Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong việc xác định quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết, tư cách tố tụng, thu thập chứng cứ và tiến hành tố tụng đúng quy định. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tiến hành tố tụng đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn được đảm bảo về quyền và lợi ích hợp pháp. Nguyên đơn thực hiện quyền, nghĩa vụ theo quy định, bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định.
Về ý kiến giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Bé D đối với bị đơn anh Ngô Minh H, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị D đối với anh H; Về con chung: Có 01 con chung tên Ngô Bảo T, sinh ngày 08/4/2021, chị D đồng ý giao cháu T cho anh H nuôi dưỡng, tạm thời chị D không cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, cháu T đang do anh H nuôi dưỡng, chị D đồng ý giao cháu T cho anh H nuôi dưỡng, không tranh chấp; Do đó, để đảm bảo sự ổn định trong cuộc sống cho con chung, đề nghị xử giao cháu T cho anh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; Về cấp dưỡng: Không xem xét; Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét; Về án phí: Chị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Những yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm về tố tụng: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Bé D khởi kiện yêu cầu ly hôn anh Ngô Minh H, yêu cầu giải quyết về người trực tiếp nuôi con. Do đó, Tòa án thụ lý vụ án dân sự với quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn anh Ngô Minh H, sinh năm 1993, đăng ký thường trú và sinh sống tại tổ C, ấp A, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Bé D vắng mặt, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt; Bị đơn anh Ngô Minh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt chị D, anh H.
Về nội dung tranh chấp:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Bé D và anh Ngô Minh H tự nguyện xây dựng gia đình với nhau năm 2020, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai theo Giấy chứng nhận kết hôn số 116/2020, ngày 16/9/2020 nên được xác định là hôn nhân hợp pháp.
Nguyên đơn chị D cho rằng trong quá trình chung sống, vợ chồng không hạnh phúc, thường hay cãi nhau, anh H đánh đập chị, vợ chồng đã ly thân từ đầu năm 2024 cho đến nay. Đối với bị đơn anh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không cung cấp ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của chị D.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập chị D và anh H đến Tòa án để hòa giải cho anh chị đoàn tụ nhưng anh H không có mặt nên không tiến hành hòa giải được. Qua đó, cho thấy anh H đã bỏ mặc mối quan hệ hôn nhân của hai vợ chồng và không mong muốn vợ chồng đoàn tụ.
Xét thấy, hôn nhân giữa chị D và anh H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị D đối với anh H, xử cho chị D ly hôn anh H.
Về con chung: Chị D và anh H có 01 con chung tên Ngô Bảo T, sinh ngày 08/4/2021. Xét thấy, cháu T đang do anh H nuôi dưỡng. Đối với chị D đồng ý giao cháu T cho anh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Đối với anh H đã được Tòa án triệu tập để ghi nhận ý kiến về con chung nhưng anh H không có mặt, không cung cấp ý kiến. Tuy nhiên, để đảm bảo sự ổn định trong cuộc sống và đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con và nguyện vọng của chị D, cần xử giao cháu T cho anh H được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng: Chị D có ý kiến tự nguyện cấp dưỡng theo khả năng, anh H được Tòa án triệu tập nhưng không có mặt, không có yêu cầu gì nên không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị D trình bày không có tài sản chung và nợ chung. Tòa án đã triệu tập cho anh H đến Tòa án giải quyết nhưng anh H vắng mặt không có ý kiến trình bày nên không xem xét.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Bé D khởi kiện yêu cầu ly hôn anh Ngô Minh H nên chị D phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 147, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014;
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Bé D đối với bị đơn anh Ngô Minh H về ly hôn, tranh chấp nuôi con.
1. Xử cho chị Nguyễn Thị Bé D ly hôn anh Ngô Minh H.
2. Về con chung: Có 01 con chung tên Ngô Bảo T, sinh ngày 08/4/2021.
Xử giao cháu Ngô Bảo T, sinh ngày 08/4/2021 cho anh Ngô Minh H được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng: Không xem xét.
Sau khi ly hôn, chị D, anh H vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Chị D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ, hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên, cũng như mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Bé D phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0015361 ngày 01/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai (Chị D đã nộp đủ).
5. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Bé D và anh Ngô Minh H có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND huyện Long Thành; - CCTHADS huyện Long Thành; - UBND xã Phước Thái (huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai); - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ, Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Minh Hoàng |