vanban.org

Bản án 67/2024/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng hợp tác

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

2015; Khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271

và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 12, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng hợp tác — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng mua bán"
  • Tòa quyết gì? 2015; Khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166 Bộ luật Dân sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NH, TỈNH T

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 67/2024/DS-ST

Ngày: 26– 9 - 2024 V/v “Tranh chấp về hợp đồng dân sự mua bán thức ăn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NH, TỈNH T

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh T Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Phạm Thiện B; 2/ Ông Nguyễn Hoàng Đ. - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc K, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố NH. Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố NH, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 235/2024/TLST-DS ngày 25 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 127/2024/QĐXXST-DS ngày 30 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số:116/2024/QĐST-DS, ngày 17 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự: - Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1960. Địa chỉ: Khóm 3, phường AT, thành phố NH, tỉnh T. - Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh P, sinh năm 1977 và chị Dương Thị T, sinh năm 1975. Cùng địa chỉ: Khóm BH, phường AT, thành phố NH, tỉnh T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện đề ngày 22/7/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Văn N trình bày: Vào ngày 25/6/2021 vợ chồng P và T có mua thức ăn cho cá của ông với số tiền 74.470.000đ, do quen biết ông cho vợ chồng P thiếu, sau đó ông có đòi nhiều lần đến nay vợ chồng P hứa hoài cố tình không trả tiền cho.

Nay ông yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh Nguyễn Thanh P và chị Dương Thị T phải trả cho ông số tiền mua thức ăn cho cá còn nợ gốc là 74.470.000đồng, tiền lãi từ ngày 25/6/2021 đến 25/6/2024, tổng cộng 37 tháng 74.470.000 x 2% x 37 tháng = 55.107.000₫, tổng cộng gốc và lãi là 129.577.000₫ (Một trăm hai mươi chín triệu năm trăm bảy mươi bảy ngàn đồng). - Bị đơn chị Dương Thị T vắng mặt nhưng trước đó có ý kiến trình bày: Chị thừa nhận vào ngày 25/6/2021 vợ chồng chị có mua thức ăn cho cá của ông Nguyễn Văn N với số tiền vốn là 74.470.000đ, do làm ăn thua lỗ nên đến hạn trả nợ vợ chồng chị không có tiền trả cho ông N. Nay ông Nguyễn Văn N khởi kiện yêu cầu vợ chồng chị trả số tiền mua thức ăn còn thiếu tổng cộng gốc và lãi là 129.577.000₫ (Một trăm hai mươi chín triệu năm trăm bảy mươi bảy ngàn đồng) thì chị thừa nhận và đồng ý trả số tiền vốn 74.470.000đ cho ông Nguyễn Văn N, vợ chồng chị không còn khả năng trả lãi cho ông N. Do công việc làm ăn nên anh Nguyễn Thanh P không về tham gia theo giấy mời của Toà án, chị đề nghị Toà án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật. - Bị đơn anh Nguyễn Thanh P vắng mặt và cũng không có ý kiến gửi cho Toà án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Tòa án nhận định: [1] Về thủ tục tố tụng: - Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ kiện Tranh chấp dân sự về hợp đồng mua bán thức ăn nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 và khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự. - Về sự vắng mặt của đương sự: Anh Nguyễn Thanh P và chị Dương Thị T đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai không có lý do, nguyên đơn thống nhất xét xử vắng mặt anh P, chị Thuỷ. Vì vậy, căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với hai đương sự nêu trên. [2] Xét yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn N, xét thấy, anh Nguyễn Thanh P và chị Dương Thị Thuỷ có mua thức ăn cho cá của ông Nguyễn Văn N với tổng số tiền là 74.470.000đồng là có thật, điều này được chị Thuỷ thừa nhận. Tuy nhiên, do làm ăn thua lỗ nên anh chị chưa có trả được cho ông Nguyễn Văn N. Nay ông N yêu cầu anh chị trả vốn và lãi tổng cộng là 129.577.000đ (Một trăm hai mươi chín triệu năm trăm bảy mươi bảy ngàn đồng) thì chị Thuỷ thừa nhận và đồng ý trả số tiền vốn 74.470.000đ, vợ chồng chị không còn khả năng trả lãi cho ông Nguyễn

Văn N nên không đồng ý trả lãi. Xét thấy, việc anh P, chị Thuỷ thừa nhận còn nợ tiền thức ăn của ông N nhưng không có khả năng trả đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Thuỷ có mặt và có ý kiến đồng ý trả số tiền gốc, không đồng ý trả lãi; còn anh P không có văn bản ý kiến gửi cho Toà án và không có mặt theo các văn bản tố tụng triệu tập của Toà án, coi như anh P từ bỏ quyền tham gia tố tụng của mình theo quy định của pháp luật. Tại phiên toà hôm nay, cả anh Nguyễn Thanh P và chị Dương Thị T đều vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ nguyên đơn ông Nguyễn Văn N cung cấp kèm theo đơn khởi kiện có trong hồ sơ, Toà án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật. Vì vậy, xét yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn N là có cơ sở chấp nhận. Anh Nguyễn Thanh P và chị Dương Thị T cùng có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Văn N số tiền mua thức ăn còn nợ tổng cộng gốc và lãi là 129.577.000đ (Một trăm hai mươi chín triệu năm trăm bảy mươi bảy ngàn đồng). [3] Về án phí: Ông Nguyễn Văn N là người cao tuổi theo Luật Người cao tuổi nên được miễn tiền tạm ứng án phí và án phí. Anh Nguyễn Thanh P và chị Dương Thị T phải có trách nhiệm nộp số tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 166, Điều 430, Điều 434, Điều 440 Bộ luật dân sự năm 2015; Khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 12, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn N. - Buộc anh Nguyễn Thanh P và chị Dương Thị T cùng có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Văn N số tiền mua thức ăn còn nợ tổng cộng gốc và lãi là 129.577.000đ (Một trăm hai mươi chín triệu năm trăm bảy mươi bảy nghìn đồng). 2/ Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. 3/ Về án phí:

- Ông Nguyễn Văn N là người cao tuổi theo Luật Người cao tuổi nên được miễn tiền tạm ứng án phí và án phí theo quy định. - Buộc anh Nguyễn Thanh P và chị Dương Thị T phải có trách nhiệm nộp 6.479.000đ (Sáu triệu bốn trăm bảy mươi chín nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố NH. - Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ. - Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Cỡ chữ