vanban.org

Bản án 67/2023/HSST — Hình sự

TAND TP. Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 18/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 1 Điều 260; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều

65 của Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh S - phạm tội không chấp hành lệnh gọi quân nhân dự bị nhập ngũ (điều 260 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 260; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 15 Luật Giao thông đƣờng bộ; Điều 260 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CAM RANH
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67/2023/HSST
Ngày: 18/9/2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH, TỈNH KHÁNH HOÀ

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH,

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

TỈNH KHÁNH HOÀ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hiếu.

Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đại Hải.

* Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Huỳnh Thị Xuân Oanh

Ông Cao Hữu Lý.

* Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Bùi Thị Thu Hà

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Lê Thị Ngọc Hiên – Thƣ ký Tòa án

2/ Ông Trần Tá nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa.

* Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà Trần Hữu Xuân

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh tham gia phiên

Quỳnh – Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh.

toà: Ông Nguyễn Nhật Hoàng Tân - Kiểm sát viên.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh tham

Ngày 18 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cam

gia phiên toà: Ông Lê Quang Khải - Kiểm sát viên.

Ranh – tỉnh Khánh Hòa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 101/2023/HSST ngày 31 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 83/2023/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thanh S, sinh năm 1978 tại thành phố C, tỉnh Khánh

Hòa; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi cƣ trú: Thôn H, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Tài xế; Con ông Nguyễn H và bà Phạm Thị T; Có vợ và 03 con (con lớn nhất sinh năm 2010, con nhỏ nhất sinh năm 2021). Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, có mặt tại phiên tòa.

* Đại diện hợp pháp cho bị hại Võ Văn M (đã chết):

- Ông Võ Ứ, sinh năm: 1967; Nơi cƣ trú: Thôn V, xã C, huyện C, tỉnh

Khánh Hòa. Có mặt tại phiên tòa.

- Bà Nguyễn Thị Thu T1, sinh năm: 1965; Nơi cƣ trú: Thôn V, xã C,

huyện C, tỉnh Khánh Hòa. Bà T1 ủy quyền cho ông Võ Ứ tham gia phiên tòa theo Giấy ủy quyền lập đƣợc UBND xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa chứng thực ngày 02/8/2023, số chứng thực 211, quyển số 01/2023-SCT/CK, ĐC. Ông Ứ có mặt tại phiên tòa.

* Bị đơn dân sự: Công ty cổ phần Đ; Địa chỉ: Số G N, phƣờng C, thành

phố C, tỉnh Khánh Hòa.

Ngƣời đại diện theo ủy quyền của bị đơn dân sự: Ông Phạm Văn M1, sinh

năm: 1960, chức vụ: Giám đốc Xí nghiệp D; Nơi cƣ trú: Tổ dân phố N, phƣờng B, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa theo Giấy ủy quyền số 03/GUQ-ĐTCR ngày 15/9/2023 của ông Lê Xuân C – Tổng giám đốc. Ông M1 mặt tại phiên tòa.

* Những người làm chứng:

- Ông Huỳnh Công N, sinh năm: 2004; nơi cƣ trú: Tổ dân phố S, phƣờng

B, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa.

- Ông Phan Ngọc C1, sinh năm: 1990; nơi cƣ trú: Thôn M, xã C, thành

phố C, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Khoảng 15 giờ 32 phút ngày 28/01/2023, Nguyễn Thanh S điều khiển xe

ô tô biển số 79H – 020.75 (loại xe ô tô thu gom rác thải sinh hoạt của Công ty cổ phần Đ) đi trên Quốc lộ A hƣớng C - N để thu gom rác. Khi đến đoạn Km 1499+900 Quốc lộ A thuộc tổ dân phố N, phƣờng C, thành phố C (là đoạn đƣờng giao nhau giữa Quốc A và đƣờng N); S điều khiển xe ô tô chuyển hƣớng từ Quốc lộ A để đi qua đƣờng N. Khi S điều khiển xe ô tô đi đến đoạn trống của giải phân cách cố định thì lúc này tại phần đƣờng ngƣợc chiều (hƣớng N - C) có xe mô tô 79Z1-034.11 do anh Võ Văn M điều khiển đang đi đến. S điều khiển xe qua đƣờng thì thùng phía sau bên phải xe ô tô 79H-020.75 va vào xe mô tô 79Z1-034.11 làm anh Võ Văn M ngã xuống đƣờng. S điều khiển xe ô tô đƣa M đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ1 nhƣng Mỹ đã tử vong.

Tại Bản kết luận giám định pháp y trên hồ sơ số 443/TT-TTPY ngày

03/02/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh K kết luận: Nguyên nhân tử vong của Võ Văn M, sinh năm: 1993: đa chấn thƣơng.

Tại Bản cáo trạng số 82/CT-VKSCR-HS ngày 31/8/2023, Viện kiểm sát

nhân dân thành phố Cam Ranh đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh S về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Cam Ranh giữ

quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Thanh S, đề nghị áp dụng điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65, điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thanh S, đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, cho hƣởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tính từ ngày tuyên án.

Về vật chứng vụ án: Xe ô tô 79H-020.75 đã trả lại cho chủ sở hữu Công

ty Cổ phần Đ và xe mô tô 79Z1-043.11 đã trả lại cho đại diện hợp pháp của bị hại là ông Võ Ứ nên không xét.

Về dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo, đại diện hợp pháp của bị

hại và bị đơn dân sự, buộc bị cáo và bị đơn dân sự tiếp tục bồi thƣờng số tiền còn thiếu trong số tiền 150.00.000 đồng phải bồi thƣờng theo thỏa thuận, đã nhận 100.000.000 đồng, còn tiếp tục bồi thƣờng là 50.000.000 đồng.

Đại diện hợp pháp của bị hại xin đƣợc giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thanh S thừa nhận hành vi phạm tội và đề

nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ

sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau: [1] Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình điều tra truy tố xét xử; Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử, Thƣ ký phiên tòa đã tuân thủ và thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại, bị đơn dân sự và ngƣời làm chứng không có ngƣời nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

[2] Trong hồ sơ và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi

phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Nhƣ vậy đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 15 giờ 32 phút ngày 28/01/2023 tại Km 1499+900 Quốc lộ A, thuộc tổ dân phố N, phƣờng C, thành phố C, Nguyễn Thanh S điều khiển xe ô tô 79H - 020.75 chuyển hƣớng qua đƣờng không bảo đảm an toàn, vi phạm khoản 2 Điều 15 Luật Giao thông đƣờng bộ, gây tai nạn làm anh Võ Văn M tử vong. Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Thanh S đủ cơ sở cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm

đến trật tự an toàn khi tham gia giao thông đƣờng bộ, đồng thời xâm phạm đến tính mạng, tài sản của ngƣời khác, gây ảnh hƣởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phƣơng, hậu quả của vụ án là nghiêm trọng khiến bị hại tử vong nên cần xử lý bị cáo với mức hình phạt nghiêm khắc. Tuy nhiên, xét bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải, có nhân thân tốt, chƣa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu. Bị cáo đã tự nguyện bồi thƣờng cho gia đình bị hại và đƣợc đại diện hợp pháp của bị hại viết đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo thấy đƣợc sự khoan hồng của pháp luật. Đồng thời áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự, không cần thiết cách ly bị cáo khỏi xã hội cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của bị hại xác

nhận các bên có thỏa thuận bồi thƣờng tổng cộng là 150.000.000 đồng, đã nhận 100.000.000 đồng nên tiếp tục yêu cầu bị đơn dân sự và bị cáo phải bồi thƣờng số tiền còn lại là 50.000.000 đồng. Xét, số tiền bồi thƣờng đã đƣợc bị đơn dân sự, bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại thỏa thuận trƣớc khi mở phiên tòa, nay tại phiên tòa tiếp tục đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận này, nên chấp nhận. Buộc bị cáo và bị đơn dân sự phải tiếp tục liên đới bồi thƣờng số tiền 50.000.000 đồng cho đại diện hợp pháp của bị hại theo phần nhƣ sau: Bị cáo phải bồi thƣờng 25.000.000 đồng, Công ty cổ phần Đ phải bồi thƣờng 25.000.000 đồng.

Đối với chiếc xe ô tô biển số 79H - 020.75 và xe mô tô biển số 79Z1-

043.11 đều đã trả lại chủ sở hữu, đại diện Công ty cổ phần Đ và ông Võ Ứ đều xác nhận các xe này chỉ bị trầy xƣớc nhẹ nên không yêu cầu bồi thƣờng nên không xét.

[5] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thanh S phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm

theo quy định. Đối với phần bồi thƣờng dân sự theo thỏa thuận của các bên trƣớc khi mở phiên tòa nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm f khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điểm a khoản 1 Điều 260; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều

65 của Bộ luật hình sự;

- Khoản 2 Điều 15 Luật Giao thông đƣờng bộ;

- Điều 288, Điều 584 và Điều 591 của Bộ luật dân sự;

- Điều 306 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban

Thƣờng vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh S phạm tội “Vi phạm quy định về

tham gia giao thông đƣờng bộ”.

2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh S 01 (một) năm tù, cho hƣởng án treo.

Thời hạn thử thách là 2 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 18/9/2023.

Giao bị cáo Nguyễn Thanh S cho UBND xã C, thành phố C, tỉnh Khánh

Hòa để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trƣờng hợp bị cáo Nguyễn Thanh S thay đổi nơi cƣ trú thì thực hiện

theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, ngƣời đƣợc hƣởng án treo cố ý vi phạm nghĩa

vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc ngƣời đƣợc hƣởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hƣởng án treo.

3. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Thanh S và Công ty cổ

phần Đ phải liên đối bồi thƣờng cho đại diện hợp pháp của bị hại (ông Võ Ứ và bà Nguyễn Thị Thu T1) số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) theo phần nhƣ sau:

- Bị cáo Nguyễn Thanh S bồi thƣờng 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm

triệu đồng).

- Công ty cổ phần Đ phải bồi thƣờng 25.000.000 đồng (Hai mƣơi lăm

triệu đồng).

Quy định chung: Kể từ ngày ngƣời đƣợc thi hành án có đơn yêu cầu thi

hành án mà ngƣời phải thi hành án không thi hành khoản tiền phải thanh toán thì phải chịu thêm tiền lãi theo mức lãi suất đƣợc quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tƣơng ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

Trƣờng hợp bản án đƣợc thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành

án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án dân sự đƣợc thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thanh S phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn)

đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, bị đơn dân

sự đƣợc quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ