vanban.org

Bản án 67/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Việt Trì, tỉnh Phú Thọ Tuyên án 10/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hà Thị H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt bị cáo Hà Thị H 15 (Mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ nhận được bản sao bản án và quyết định thi hành án. Giao bị cáo Hà Thị H cho Ủy ban nhân dân xã T, thành phố Việt Trì,… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hà Thị Hậu - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hà Thị H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự - Xác nhận ông Đào Văn B; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:67/2023/HS-ST
Ngày 31/5/2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Ngọc Dũng

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Đình Đậu;

2. Bà Nguyễn Thị Hương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Đức Minh -Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì tham gia phiêntòa: Bà Nguyễn Thị Bích Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 73/2023/TLST-HS ngày 16/5/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2023/QĐXXST-HS ngày 18/5/2023, đối với bị cáo:

HÀ THỊ H - sinh năm 1988 tại xã P , huyện T, tỉnh Phú Thọ. Nơi cư trú: khu 2, xã T, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hà Văn L - sinh năm 1963 và bà Trần Thị T - sinh năm 1965; Bị cáo có chồng là Cao Trung Đ - sinh năm 1979 và có 04 con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh ngày 10/3/2023; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo không bị tạm giữ tạm giam, hiện đang tại ngoại tại xã T, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, có mặt.

- Người bị hại: Bà Nguyễn Thị S - sinh năm 1953 và ông Đào Văn B sinh năm 1951, địa chỉ: đều ở khu H, phường G, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, đều có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Cao Trung Đ - sinh năm 1979, địa chỉ: khu 2, xã T, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 10 giờ ngày 31/12/2022 Hà Thị H đến trang trại ông Đào Văn B và bà Nguyễn Thị S ở khu T, phường Gia Cẩm, thành phố Việt trì để mua gà thịt vì vợ chồng ông B, bà Scó bán gà thịt, lợn thịt và rượu. Khi đến nơi, Hgặp bà S, H đặt mua của bà S 01 con gà thịt, nhờ bà S mổ sơ chế và hẹn 30 phút sau sẽ quay lại lấy. H thấy bà S nhận mổ gà mà không yêu cầu trả tiền trước hay đặt cọc nên nảy sinh ý định đặt mua hàng số lượng lớn để chiếm đoạt.

Khoảng 12 giờ cùng ngày, H quay lại nhà ông B để lấy gà đã nhờ mổ và trả cho bà S 350.000 đồng. H thấy ông B đang mổ lợn nên H tự giới thiệu mình tên là Linh, đang làm kế toán tại trường mầm non Gia Cẩm và bảo ông B bán cho H 01 con lợn to nhất để mang đi biếu. Ông B đồng ý bán cho H 01 con lợn trọng lượng 105kg với giá 70.000 đồng/1 kg và hẹn khi nào mổ xong sẽ gọi điện cho H đến lấy. Sau đó, H đem 01 con gà đã mổ xong về nhà. Đến khoảng 16 cùng ngày, ông B gọi điện cho H thông báo đã mổ xong lợn, H nói qua điện thoại bảo ông B bắt thêm cho H 10 con gà. Sau đó, H nhờ chồng là anh Cao Trung Đ điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Ford Mondeo BKS 36A-056.80 chở H đến nhà ông B. Khi đến nơi, ông B và anh Đ mang thịt lợn để lên cốp xe. H thấy trong sân nhà ông B có nhiều can rượu nên bảo ông B bán cho 01 can 20 lít với giá 500.000 đồng, ông B đồng ý và để rượu vào cốp xe cho H. Cùng lúc đó, bà S bắt 10 con gà cho vào bu và cân tổng trọng lượng 26kg với giá 120.000 đồng/1kg. Khi ông B mang gà ra xe, H đứng nói chuyện với bà S và bảo bà S cho vay số tiền 1.000.000đồng để đi lấy hàng (mục đích để chiếm đoạt cả số tiền này), bà S tin H nên đã cho H vay 1.000.000 đồng. H nói với ông B, bà S đến chiều sẽ quay lại thanh toán tiền thịt, rượu và trả tiền cho bà S. Sau đó, H và anh Đ đi về nhà. Trên đường về, anh Đ hỏi H “Lấy làm gì lắm thịt lợn với gà thế” thì H nói “Người ta đặt”, nghe H nói vậy nên anh Đ không hỏi gì thêm.

Về đến nhà, H nhớ lại, khi đến nhà ông B, H thấy ông B sử dụng 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung galaxy A53 màu đen nên H tiếp tục nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại này. H gọi điện cho ông B và hẹn ông B ra khu vực nhà văn hoá lao động tỉnh Phú Thọ để thanh toán tiền thịt và rượu. Khoảng 19 giờ cùng ngày, H bảo anh Đ chở H đi gặp bạn. Khi đến nơi, H bảo anh Đ đứng chờ ở trong sân nhà văn hoá, còn H đi ra vỉa hè phía ngoài đường gặp ông B. H nói với ông B điện thoại của H hết pin và hỏi mượn điện thoại của ông B để gọi điện, ông B đồng ý. H cầm điện thoại của ông B đi vào sân nhà văn hoá và giả vờ gọi điện thoại. Sau đó, H cất điện thoại vào trong người và lên xe của anh Đ để đi về nhà. Khi về nhà, H tháo bỏ sim điện thoại vứt vào thùng rác và mang bỏ đi (vị trí ở đâu H không nhớ nên Cơ quan điều tra không thu hồi được). Sau đó, H lắp sim điện thoại của H vào máy để sử dụng.

Sau khi bị mất tài sản, ông B đến Công an thành phố Việt Trì trình báo. Căn cứ lời khai của ông B, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố Việt Trì ra thông báo truy tìm đối tượng gây án và phương tiện là chiếc xe ô tô nhãn hiệu Ford Mondeo BKS 36A-056.80. Ngày 20/01/2023, tổ công tác của Công an thành phố Việt Trì đang làm nhiệm vụ tại khu 5 xã Thanh Đình, thành phố Việt Trì thì phát hiện H, anh Đ và chiếc xe ô tô có đặc điểm như trên đang lưu thông. Tổ công tác đưa H và chiếc xe ô tô trên về Cơ quan điều tra làm việc. Tại Cơ quan điều tra, H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Số gà, thịt lợn, rượu H đã sử dụng ăn uống hết, số tiền 1.000.000đồng H đã chi tiêu cá nhân hết, còn 01 chiếc thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A53 màu đen, số Imei1: 353842194523237, số Imei2: 354708204523237 là điện thoại của ông B do H chiếm đoạt, H đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra.

Ngày 01/02/2023, Cơ quan điều tra yêu cầu định giá tài sản đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung trên, 105kg thịt lợn hơi, 26kg gà ta, 20 lít rượu trắng.

Tại Kết luận định giá tài sản số: 62 ngày 06/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản, Ủy ban nhân dân thành phố Việt Trì, kết luận:

“Giá 10 con gà mái vẫn còn sống, tổng trọng lượng 26kg

Giá 01kg con gà mái vẫn còn sống ở Việt Trì tại thời điểm ngày 31/12/2022, có giá là 100.000 đồng

Thành tiền 26kg x 100.000đ/kg = 2.600.000đồng

Tại Kết luận định giá tài sản số: 64 ngày 06/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản, Ủy ban nhân dân thành phố Việt Trì, kết luận:

“Giá 01 con lợn vẫn còn sống, tổng trọng lượng 105kg

Giá 01kg con lợn vẫn còn sống ở Việt Trì tại thời điểm ngày 31/12/2022, có giá là 53.000 đồng

Thành tiền 105 kg x 53.000đ/kg = 5.565.000đồng

Tại Kết luận định giá tài sản số: 66 ngày 06/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản, Ủy ban nhân dân thành phố Việt Trì, kết luận:

“ Giá 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A53 màu đen, số Imei1: 353842194523237, số Imei2: 354708204523237, điện thoại đã qua sử dụng, có giá là 4.500.000 đồng”.

Tại Kết luận định giá tài sản số: 68 ngày 06/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản, Ủy ban nhân dân thành phố Việt Trì, kết luận:

“Giá 20 lít rượu trắng (rượu nấu)

Giá 01 lít rượu trắng (rượu nấu) ở Việt Trì tại thời điểm ngày 31/12/2022, có giá là 25.000 đồng

Thành tiền 20 lít x 25.000đ/lít = 500.000đồng

Tổng giá trị tài sản H lừa đảo chiếm đoạt được là: 14.165.000đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Ông B và bà S đã nhận số tiền được số 11.000.000đồng do gia đình H bồi thường. Ông B, bà S không yêu cầu H bồi thường thêm gì khác. Đối với sim điện thoại ông B xin tự nguyện khắc phục.

Tại Cáo trạng số: 69/CT-VKSVT ngày 13/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đã quyết định truy tố bị cáo Hà Thị H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị HĐXX:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hà Thị H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Căn cứ khoản 1 Điều 174, điểm b,n,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 36 của Bộ luật Hình sự: Đề nghị xử phạt bị cáo từ 15 (Mười lăm) tháng đến 18 (Mười tám) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự, Công an thành phố Việt Trì nhận được bản sao bản án và quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Hà Thị H cho Ủy ban nhân dân xã Thụy Vân, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ giám sát giáo dục trong thời gian cải tạo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Thụy Vân, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 100 của Luật thi hành án Hình sự.

Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo vì bị cáo không có việc làm và nuôi con nhỏ. Không áp dụng biện pháp lao động phục vụ cộng dồng đối với bị cáo vì bị cáo đang nuôi con dưới 06 tháng tuổi.

Không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo.

2. Về trách nhiệm dân sự: Xác nhận bị hại đã nhận được số tiền 11.000.000đồng do bị cáo bồi thường.

3. Về xử lý vật chứng: Xác nhận bị hại đã nhận lại tài sản là chiếc điện thoại di động; Xác nhận người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã nhận lại tài sản là chiếc ô tô.

4. Về án phí: Buộc bị cáo H phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không tham gia tranh luận đối với bản luận tội và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát; Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội sửa chữa, trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Các quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an thành phố Việt Trì, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về những căn cứ xác định có tội: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người bị hại, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác được thu thập tổng hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để khẳng định: Khoảng 12 giờ ngày 31/12/2022 tại nhà ông Đào Văn B ình ở khu Thanh Xuân, phường Gia Cẩm, thành phố Việt Trì, Hà Thị H đã dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt của ông Đào Văn Bình và Bà Nguyễn Thị Sơn 01 con lợn trọng lượng 105kg trị giá 5.565.000 đồng, 10 con gà trọng lượng 26kg trị giá 2.600.000 đồng, 20 lít rượu trắng trị giá 500.000 đồng và số tiền 1.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản H lừa đảo chiếm đoạt được là 9.665.000 đồng. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, tại khu vực nhà văn hoá lao động tỉnh Phú Thọ thuộc phường Gia Cẩm, thành phố Việt Trì, Hà Thị H đã dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt của ông Đào Văn B 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A53 trị giá 4.500.000 đồng. Chiếc điện thoại này, Cơ quan điều tra đã thu hồi được và trả lại cho chủ sở hữu. Hành vi phạm tội của H là liên tục, do vậy H phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” với tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 14.165.000 đồng.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội. Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”

. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự coi thường pháp luật, đã gây mất trật tự trị an tại địa phương, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây bức xúc trong dư luận quần chúng nhân dân; bị cáo nhận thức đầy đủ về tính chất nguy hiểm cũng như H quả của hành vi do mình thực hiện, nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp.

. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình: Bị cáo có nhân thân tốt, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự là “Phạm tội 02 lần trở lên”; bị cáo được hưởng 04 tình tiết giảm nhẹ, trong đó 03 tình tiết quy định tại điểm b,n,s khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự là “Người phạm tội tự nguyên sửa chữa, bồi thường thiệt hại”, “Người phạm tội là phụ nữ có thai” và “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” và 01 tình tiết được quy định tại khoản 2 Điều 51 là người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Nên khi lượng hình cũng xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng có tác dụng giáo dục riêng với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Không áp dụng biện pháp lao động phục vụ cộng đồng đối với bị cáo vì bị cáo đang nuôi con dưới 06 tháng tuổi. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo vì bị cáo không có việc làm và nuôi con dưới 36 tháng tuổi.

. Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 174 của Bộ luật Hình sự còn quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000đồng đến 100.000.000đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Quá trình điều tra xác minh, bị cáo H có tài sản chung cùng gia đình, bị cáo không có tài sản riêng có giá trị, ngoài đồ dùng sinh hoạt thiết yếu. Vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo.

. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo tác động chồng bị cáo bồi thường cho người bị hại, nên cần xác nhận người bị hại đã nhận số tiền 11.000.000đồng do bị cáo bồi thường. Đối với sim điện thoại bị cáo đã vứt, ông B không yêu cầu bị cáo bồi thường. Ngoài ra bị hại không có yêu cầu bị cáo khoản tiền nào khác.

. Về xử lý vật chứng: Xác nhận người bị hại đã nhận lại tài sản là 01 chiếc điện thoại di động; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã nhận lại chiếc ô tô.

Các vấn đề khác: Đối với anh Cao Trung Đ là chồng của bị cáo không biết, không được bị cáo bàn bạc khi bị cáo thực hiện hành vi lừa đảo nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì tại phiên tòa là phù hợp, nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 174, điểm b,n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 36 của Bộ luật Hình sự; Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hà Thị H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt bị cáo Hà Thị H 15 (Mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ nhận được bản sao bản án và quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Hà Thị H cho Ủy ban nhân dân xã T, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ giám sát giáo dục trong thời gian cải tạo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T , thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 100 của Luật thi hành án Hình sự.

Miễn khấu trừ thu nhập và không áp dụng biện pháp lao động phục vụ cộng đồng đối với bị cáo Hà Thị H.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Hà Thị H.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự

Xác nhận ông Đào Văn B đã nhận số tiền 11.00.000đ (Mười một triệu đồng) do bị cáo H bồi thường theo Giấy biên nhận ngày 11/4/2023 của ông Đào Văn B và Biên bản làm việc ngày 11/4/2023 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Việt Trì.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

- Xác nhận ông Đào Văn B đã nhận lại 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A53 màu đen đã qua sử dụng, số Imei1: 353842194523237, số Imei2: 354708204523237 theo Biên bản về việc trả lại tài sản đồ vật tài liệu ngày 12/4/2023 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Việt Trì.

- Xác nhận anh Cao Trung Đ đã nhận lại 01 chiếc ô tô nhãn hiệu Ford Mondeo màu đen Biển kiểm soát 36A-05680 theo Biên bản về việc trả lại tài sản đồ vật tài liệu ngày 16/3/2023 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Việt Trì.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Hà Thị H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, người bị hại có mặt được quyền kháng cáo để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ