vanban.org

Bản án 67/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Đông Hà, tỉnh Quảng Trị Tuyên án 28/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Cảnh S (tên gọi khác: Ch) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Khoản 1 Điều 584; khoản 1 Điều 585 và khoản 1 Điều 589 Bộ luật dân sự, tuyên xử: Buộc bị cáo: Lê Cảnh S có nghĩa vụ bồi thường cho: Công đoàn Công ty thủy điện Q 6.000.000 đồng; Đoàn khối Cơ quan và Doanh nghiệp tỉnh Q 127.000.000 đồ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Cảnh S "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Cảnh S (tên gọi khác: Ch) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ
TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67/2023/HSST
Ngày 28-7-2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hồ Thị Xuân Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thanh Tùng;

2. Bà Nguyễn Thị Mỹ Vinh.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trí Diện-Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Lê Thùy Linh -Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 7 năm 2023, tại Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 32/2023/HSST ngày 31 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2023/QĐXXST-HS ngày 29/6/2023 đối với bị cáo: Lê Cảnh S (tên gọi khác: Ch), sinh ngày 12/7/1991 tại Quảng Trị; nơi ĐKHKTT và cư trú: thôn B, xã Th, huyện Tr, tỉnh Quảng Trị; giới tính: Nam, Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; trình độ học vấn lớp 9/12; nghề nghiệp: Lái máy múc; con ông Lê Cảnh H, sinh năm 1967, hiện trú tại thôn B, xã Th, huyện Tr, tỉnh Quảng Trị; con bà: Lê Thị T1, sinh năm 1970, hiện trú tại tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con út; có vợ: Phan Thị Nh, sinh năm 1997, hiện trú tại thôn B, xã Th, huyện Tr, tỉnh Quảng Trị và 02 con, con lớn sinh năm 2019 con nhỏ sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 21/10/2022 sau đó chuyển tạm giam đến nay, có mặt.

2. Bị hại:

2.1. Chị Nguyễn Kim Kỳ D, sinh năm 1994; trú tại: Khu phố T, thị trấn G, huyện G, tỉnh Quảng Trị, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt;

2.2. Ông Nguyễn Thanh H1, sinh năm 1967; trú tại: Khu phố B, phường M, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt;

2.3. Đoàn khối Cơ quan và Doanh nghiệp tỉnh Q; địa chỉ: Khu phố B, phường L, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; Người đại diện hợp pháp: Bà Hoàng Thị Trúc Ph- Bí Thư Đoàn khối Cơ quan và Doanh nghiệp tỉnh Q. Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lê Thị Hồng Nh1, sinh năm 1988- Phó Bí thư Đoàn khối Cơ quan và Doanh nghiệp tỉnh Q (Văn bản ủy quyền lập ngày 12/7/2020), có đơn đề nghị xét xử vắng mặt;

2.4. Chị Võ Thị Minh Ng, sinh năm 1982; trú tại: khu phố T, phường L, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt;

2.5. Trung tâm Nghiên cứu, Chuyển giao công nghệ và Đổi mới Q (Trước đây là: Trung tâm Nghiên cứu ứng dụng và thông tin khoa học và công nghệ Q); địa chỉ: khu phố T, phường L, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; Người đại diện hợp pháp: Ông Đào Ngọc H2- Giám đốc trung tâm. Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị H3, sinh năm 1981- Thủ quỹ Trung tâm (Văn bản ủy quyền lập ngày 18/8/2020) có đơn xin xét xử vắng mặt;

2.6. Công đoàn Công ty thủy điện Q; địa chỉ: Đường Ng, khu phố T, Phường n, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; Người đại diện hợp pháp: Ông Đoàn Thanh Đ-Chủ tịch công đoàn. Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Kim Kỳ D, sinh năm 1994- Thủ quỹ công đoàn (Văn bản ủy quyền lập ngày 25/9/2020), có đơn đề nghị xét xử vắng mặt;

2.7. Chị Đoàn Thị Khánh L,sinh năm 1980; trú tại khu phố B, phường M, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt;

2.8. Chị Bùi Thị Q; địa chỉ: khu phố T, phường L, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt;

2.9. Huyện ủy Đ; địa chỉ: thị trấn K, huyện Đ, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt ;

2.10. Ông Nguyễn Trí T, sinh năm 1964, trú tại:khu phố B, phường H, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do thiếu tiền tiêu xài cá nhân nên Lê Cảnh S nảy sinh ý định tìm cơ quan, tổ chức có sơ hở để đột nhập lấy trộm tài sản. Lê Cảnh S quan sát lựa chọn địa điểm để thực hiện hành vi phạm tội. Để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, S điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Taurus, màu đen, biển kiểm soát 74K4-4873 ra khu vực chợ Đông Hà tìm mua công cụ gồm 01 đôi găng tay và 01 xà beng (xà cầy nhổ đinh).

Trong khoảng thời gian từ ngày 25/6/2020 đến ngày 01/11/2020, Lê Cảnh S đã thực hiện 06 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị và 01 vụ trộm cắp tại huyện Đakrông cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 25/6/2020, S điều khiển xe mô tô đến chơi ở quán Internet trên đường Điện Biên Phủ (gần gác chắn tàu). Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, S mang theo khẩu trang, găng tay, xà beng rồi điều khiển xe mô tô đi đến khu vực gần đường Nguyễn Du - Trần Bình Trọng đến Công ty Thủy điện Q. S đưa xe giấu một bên tường rào sát Công ty Môi trường đô thị và ngồi đợi. Đến khoảng 00 giờ ngày 26/6/2020, S đi vòng ra bãi đất trống phía sau Công ty Thủy điện Q, đeo găng tay và mang theo xà beng leo qua tường rào đột nhập vào bên trong khuôn viên của Công ty. S kiểm tra xung quanh thì thấy có 01 cây xanh trồng sát bên hông tòa nhà 04 tầng nên đã trèo lên cây, đột nhập vào ban công bên hông tầng 02 tòa nhà. Thấy cánh cửa ban công không khóa nên S mở cửa đi vào phía bên trong dãy tầng 02 của Công ty. S dùng xà beng cạy cửa chính phòng Tài chính - kế toán, đột nhập vào bên trong lục tìm tài sản trong hộc bàn làm việc của chị Nguyễn Kim Kỳ D lấy 1.000.000 đồng. S phát hiện có 01 két sắt trong phòng nên dùng xà beng cạy cửa két sắt nhưng không mở được. Sau đó, S đi đến phòng Kế toán trưởng, dùng xà beng cạy cửa chính đột nhập vào bên trong, lục tìm tài sản nhưng không có. S tiếp tục đi đến phòng Giám đốc, dùng xà beng cạy cửa chính đột nhập vào bên trong, lục tìm tài sản lấy được số tiền 40.000.000 đồng để trong ngăn bàn làm việc của ông Nguyễn Thanh H1. Sau khi lấy được tài sản, S mang theo các công cụ và leo ra bên ngoài theo hướng đã đột nhập để tẩu thoát. S điều khiển xe mô tô đi về nhà theo hướng Trần Bình Trọng - Điện Biên Phủ. Trên đường đi, S đã vứt lại găng tay, xà beng ở ven đường không rõ vị trí. Số tiền lấy trộm được S đã tiêu xài cá nhân hết.

Vụ thứ hai: Khoảng 21 giờ ngày 11/7/2020, Lê Cảnh S ngồi chơi game ở quán Intenet trên đường Điện Biên Phủ (gần gác chắn tàu) rồi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Taurus, màu đen, biển kiểm soát 74K4-4873 mang theo công cụ đã chuẩn bị, đeo khẩu trang và mang dép rọ đi lên Công viên cọ dầu, cất giấu xe mô tô rồi ngồi đợi. Đến khoảng 00 giờ ngày 12/7/2020, S đeo găng tay, mang theo xà beng leo vào tường rào sát bên nhà xe của Trụ sở Đảng ủy khối Cơ quan và Doanh nghiệp tỉnh Q, đi vào khu vực khuôn viên sân của Trụ sở. S đi bộ ra dọc phía sau trụ sở, khi đến cuối tòa nhà thấy ô cửa thông gió nhà vệ sinh mở, bên dưới có một cái bàn làm bằng gỗ nên S leo lên và đột nhập vào bên trong phòng Phó bí thư thường trực tại tầng 01, lục tìm tài sản nhưng không có. Sau đó, S mở cửa chính đi ra ngoài và lên tầng 02 theo hướng cầu thang bộ. Tại tầng 02, S dùng xà beng cạy phá cửa phòng vào bên trong lục tìm tài sản lần lượt ở các phòng Bí thư, phòng Trưởng ban tổ chức, phòng Ban tổ chức và phòng Phó ban tổ chức nhưng không lấy tài sản gì. S đi đến phòng Trưởng ban tuyên giáo, dùng xà beng cạy phá nhưng không mở cửa được. S tiếp tục đi đến phòng Phó bí thư, dùng xà beng cạy phá cửa và vào bên trong lục tìm tài sản nhưng không có. Sau đó, S đi theo cầu thang bộ lên tầng 03, đi đến phòng Bí thư Đoàn, dùng xà beng cạy phá cửa vào bên trong lục tìm tài sản nhưng không có. S đi qua phòng Văn phòng Đoàn ở bên cạnh, tiếp tục dùng xà beng cạy phá cửa vào bên trong phòng, lục tìm trong ngăn bàn làm việc lấy trộm được số tiền 127.000.000 đồng là tiền quỹ Đoàn do chị Lê Thị Hồng Nh1 –Phó bí thư đoàn khối quản lý. Sau đó, S đem theo tài sản lấy trộm được và mang các công cụ đi xuống tầng 01, mở cửa hông bên trái (gần sân bóng chuyền) rồi tẩu thoát ra ngoài theo hướng đột nhập. S đến vị trí cất giấu xe rồi điều khiển xe đi về nhà. Khi đi dọc đường Điện Biên Phủ, S đã vứt lại xà beng, găng tay ven đường. Số tiền lấy trộm được S đã tiêu xài cá nhân hết.

Vụ thứ ba: Vào khoảng 20 giờ ngày 16/8/2020, Lê Cảnh S điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Taurus, màu đen, biển kiểm soát 74K4-4873 đến dựng phía sau Trung tâm Nghiên cứu ứng dụng và thông tin khoa học và công nghệ Q (nay là: Trung tâm Nghiên cứu, Chuyển giao công nghệ và Đổi mới Q). S đeo bao tay, mang theo xà beng đã chuẩn bị rồi leo qua tường rào vào bên trong Trung tâm. S trèo lên một bồn kim loại, mở cửa thông gió phía bên trái Trung tâm rồi đột nhập vào trong nhưng phát hiện đây là phòng vệ sinh nên leo ra lại bên ngoài. S leo lên bức tường phía sau Trung tâm, dùng xà beng cạy cửa sổ của phòng Kế hoạch - Tổng hợp rồi đột nhập vào bên trong lục tìm tài sản nhưng không có, nên S leo ra ngoài theo lối cửa sổ. S leo ra cửa thông gió ở cầu thang tầng 1 dẫn lên tầng 2 rồi đột nhập vào bên trong. S lên tầng 2 rẽ trái đi đến phòng Phó giám đốc, dùng xà beng cạy cửa sổ rồi đột nhập vào bên trong, lục tìm các hộc tủ và lấy trộm được 3.700.000 đồng để trong phong bì trong ngăn bàn làm việc của chị Võ Thị Minh Ng. S lấy tiền bỏ vào túi quần rồi leo ra lại qua cửa sổ, đi bộ đến cuối hành lang thì phát hiện có camera gắn ở trên tường nên lấy một chiếc khăn ở gần đó rồi dùng để che camera lại. S lần lượt cạy phá cửa và đột nhập vào bên trong phòng Nghiên cứu, ứng dụng và phát triển, phòng Giám đốc, phòng Phó giám đốc nhưng không lấy tài sản gì. Sau đó, S đi đến phòng Kế toán dùng xà beng cạy phá cửa sổ, đột nhập vào bên trong lục tìm tài sản, S phát hiện có 01 két sắt nên kéo ra rồi dùng xà beng cạy mở két sắt. Quá trình cạy két, do khát nước nên S qua phòng Giám đốc bưng 01 bình nước nhãn hiệu Newstar, màu xanh ở góc phòng qua để trên bàn trong phòng Kế toán. Vì không thấy ly nên S ngậm miệng trực tiếp ở vòi của bình nước để uống. Sau khi cạy phá được két sắt, S lấy toàn bộ số tiền 90.421.000 đồng là tiền quỹ của Trung tâm do chị Nguyễn Thị H3, Thủ quỹ quản lý. S cất tiền trong túi quần rồi tẩu thoát theo hướng đã đột nhập vào. S đến lấy xe rồi điều khiển về nhà, quá trình tẩu thoát S vứt bỏ lại xà beng ở dọc đường không rõ vị trí. Số tiền lấy trộm được S đã tiêu xài cá nhân hết.

Tại Kết luận giám định số 917/C09C-Đ3 ngày 04/9/2020 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Đà Nẵng kết luận: Trên vòi nước, bằng nhựa màu xanh của bình nước có ADN của một người nam giới.

Tại Kết luận giám định số 1520/KL-KTHS ngày 26/10/2022 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Đà Nẵng kết luận: Người nam giới có ADN để lại trên vòi nước bằng nhựa màu xanh (theo Kết luận giám định số 917/C09C-Đ3 ngày 04/9/2020 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Đà Nẵng) là Lê Cảnh S.

Vụ thứ tƣ: Khoảng 23 giờ ngày 24/9/2020, S điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Taurus, màu đen, biển kiểm soát 74K4-4873 mang theo công cụ đã chuẩn bị, đeo khẩu trang và mang dép rọ đi lên Công ty Thủy điện Q. S giấu xe mô tô một bên tường rào sát Công ty Môi trường đô thị ở đường Trần Bình Trọng và ngồi đợi. Đến khoảng 00 giờ 00′ ngày 25/9/2020, S đeo găng tay và mang theo xà beng đi vòng ra khu vực bãi đất trống phía sau Công ty Thủy điện Q, leo qua hàng rào và đột nhập vào bên trong khuôn viên của Công ty. S đi đến cây xanh sát bên hông tòa nhà 04 tầng (gần sân tennis) và trèo lên ban công bên hông tầng 2. S kiểm tra thấy cửa hông không khóa nên mở cửa đi vào bên trong dãy phòng tầng 2 của Công ty. S đi đến phòng Tài chính kế toán, dùng xà beng cạy mép cửa chính làm bung chốt khóa rồi mở cửa vào bên trong phòng, lục tìm tài sản nhưng không có. Lúc này S thấy 01 két sắt đặt bên dưới 01 bàn làm việc nhưng vì khó cạy phá nên S di chuyển qua phòng khác để tìm tài sản. S đi đến phòng Giám đốc dùng xà beng cạy mép cửa chính đột nhập vào bên trong, lục tìm tài sản nhưng không có. S quay lại phòng Tài chính – kế toán, kéo két sắt ra nhà vệ sinh nam gần đó. Tại đây, S dùng xà beng cạy phá một bên cánh cửa của két sắt và lấy được 6.000.000 đồng là tiền quỹ của Công đoàn công ty do chị Nguyễn Kim Kỳ D quản lý. Sau đó, S cất tiền vào túi quần và mang theo các công cụ leo ra ngoài theo hướng đột nhập. S đến vị trí cất giấu xe rồi điều khiển xe đi theo hướng Trần Bình Trọng - Điện Biên Phủ để về nhà. Trên đoạn đường Điện Biên Phủ, S đã vứt lại xà beng, găng tay dọc đường không rõ vị trí. Số tiền lấy trộm được S đã tiêu xài cá nhân hết.

Vụ thứ năm: Khoảng 20 giờ 00 ngày 13/10/2020, S điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Taurus, màu đen, biển kiểm soát 74K4-4873 đến Bến xe phía Nam trên đường Lê Duẩn, gửi xe ở bãi xe rồi bắt xe taxi đến Sở Thông tin và Truyền thông. S đi đến sát hàng rào phía sau trụ sở và ngồi đợi. Đến 23 giờ 00 cùng ngày, S đeo găng tay mang theo xà beng rồi leo qua tường rào, trèo lên mái tôn của nhà xe, sau đó đột nhập vào phía sau tầng 02 của dãy nhà trước. S leo vào ban công phía sau phòng Kế toán, dùng xà beng cạy cửa sau của phòng, rồi đột nhập vào bên trong. S lục tìm các tủ trong phòng làm việc thì phát hiện có 01 con heo đất trong tủ hồ sơ nên dùng xà beng đập vỡ heo đất và lấy toàn bộ số tiền bên trong là 3.000.000 đồng của chị Đoàn Thị Khánh L. S tiếp tục lục tìm tài sản thì thấy trong tủ hồ sơ có 02 phong bì bên trong có chứa 03 cọc tiền nên lấy toàn bộ số tiền 150.000.000 đồng của chị Linh cất vào túi quần. Sau đó, S tẩu thoát ra ngoài theo hướng đột nhập. S vứt xà beng và găng tay vải ở dọc đường tàu không rõ vị trí, rồi bắt taxi về lại Bến xe phía Nam lấy xe mô tô đi về nhà. Số tiền lấy trộm được S đã tiêu xài cá nhân hết.

Vụ thứ sáu: Khoảng 19 giờ ngày 31/10/2020, S điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Taurus, màu đen, biển kiểm soát 74K4-4873 đi ngang qua nhà chị Bùi Thị Q ở khu phố T, phường L, thành phố Đ. Thấy nhà đóng cửa, không S đèn, S nghĩ ngôi nhà không có ai trông giữ nên nảy sinh ý định đột nhập vào lấy trộm tài sản. Đến khoảng 01 giờ ngày 01/11/2020, S điều khiển xe mô tô, mang theo xà beng, cưa tay và đôi găng tay đã chuẩn bị đi đến nhà chị Quyên. S dựng xe mô tô cách ngôi nhà khoảng 300 mét rồi đi đến phía tường rào bên trái ngôi nhà, trèo lên một cái cây ở sát tường để lên tầng 2. S dùng cưa tay cưa song sắt bảo vệ ở cửa sổ rồi đột nhập vào bên trong ngôi nhà. S vào phòng ngủ ở tầng 2, lục tìm các tủ trong phòng lấy trộm được 3.000.000 đồng, 01 dây chuyền vàng 24K, 02 nhẫn kim tiền vàng 24K, 02 nhẫn vàng 24K và 01 mặt dây chuyền vàng 18K để trong tủ nhựa bên góc trái phòng rồi cất vào túi quần. Sau đó, S tiếp tục đi xuống tầng 1, lục tìm các tủ trong phòng ngủ nhưng không có tài sản. S bỏ lại xà beng ở trên bàn tại tầng 1 rồi đi lên tầng 2, leo ra bên ngoài theo hướng đã đột nhập. S đến lấy xe mô tô rồi đi về nhà. Trên đường tẩu thoát, S vứt găng tay và cưa tay lại dọc đường không rõ vị trí. Đến S ngày 01/11/2020, S đem toàn bộ số dây chuyền vàng, nhẫn vàng và mặt dây chuyền vàng lấy trộm được đến bán tại 01 cửa tiệm mua bán vàng tại Đakrông với giá 45.000.000 đồng. Số tiền trên S đã tiêu xài cá nhân hết.

Tại Kết luận định giá số 117/KLĐGTS ngày 24/11/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đông Hà, kết luận: 01 dây chuyền vàng 24K, trọng lượng 02 chỉ, 01 nhẫn kim tiền vàng 24K, trọng lượng 02 chỉ, 01 nhẫn kim tiền vàng 24K, trọng lượng 01 chỉ, 01 nhẫn vàng 24K, trọng lượng 02 chỉ, 01 nhẫn vàng 24K, trọng lượng 01 chỉ, 01 mặt dây chuyền vàng 18K trọng lượng 02 chỉ (tài sản không thu giữ được) có trị giá tại thời điểm bị chiếm đoạt là 49.980.000 đồng.

Vụ Thứ Bảy: Ngoài các vụ trộm cắp tài sản tại địa bàn thành phố Đông Hà, vào ngày 23/10/2020, Lê Cảnh S còn thực hiện 01 vụ trộm cắp tài sản tại huyện Đakrông, cụ thể như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 23/10/2020, S điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 74K4-4873 đi từ nhà đến thị trấn K, huyện Đ để tìm trụ sở cơ quan nào có sơ hở đột nhập lấy trộm tài sản. S đi qua trụ sở Huyện ủy Đ thuộc khóm H, thị trấn K, huyện Đ quan sát, thấy xung quanh ít nhà dân, phía sau là đồi núi nên nảy sinh ý định đột nhập vào lấy trộm tài sản. S đến chợ Đakrông mua 01 xà beng. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, S điều khiển xe mô tô đến đường mòn dẫn lên ngọn đồi phía sau trụ sở Huyện ủy, cất giấu xe rồi mang theo xà beng, leo qua tường rào phía sau trụ sở đột nhập vào bên trong. S đi lên tầng 02, đến phòng Bí thư Huyện ủy dùng xà beng cạy chốt cửa chính, đột nhập vào bên trong lấy trộm 01 cặp da màu nâu và 01 cặp da màu đen, bên trong có đựng 01 máy tính xách tay nhãn hiệu ASUS ZENBOOK UX430UA để trong tủ hồ sơ của ông Nguyễn Trí T (sinh năm 1964, Bí thư huyện ủy). S đem theo 02 cặp da đến phòng Phó Bí thư thường trực, dùng xà beng cạy cửa chính đột nhập vào bên trong, lục tìm tài sản nhưng không lấy gì. S đi xuống tầng 01, phát hiện ở phòng Văn thư có 01 két sắt nên S đem số tài sản vừa lấy trộm được đến giấu ở bãi cỏ phía sau trụ sở, rồi quay lại phòng Văn thư dùng xà beng cạy cửa chính đột nhập vào bên trong. S lục tìm các tủ trong phòng nhưng không có tài sản nên S kéo két sắt ra vị trí cất giấu cặp da, dùng 01 cục đá lấy ở gần đó đập phá két sắt nhưng không được. Lúc này, vì sợ bị phát hiện nên S đem máy tính xách tay leo qua hàng rào, đến cất giấu ở gần cột điện ở góc tường phía trước bên trái của trụ sở, mục đích nếu bị phát hiện thì sẽ đến lấy máy tính rồi tẩu thoát. Sau đó, S quay lại vị trí để két sắt, tìm 01 cục đá lớn hơn tiếp tục đập phá két sắt thì mở được. S lục tìm bên trong két sắt nhưng không có tài sản có giá trị. Thấy ngoài đường phía trước trụ sở có nhiều người qua lại nên S không quay ra lấy máy tính xách tay nữa, S để lại két sắt cùng 02 cặp da ở bãi cỏ rồi leo qua hàng rào phía sau, đến lấy xe mô tô rồi đi về. Trên đường đi, S vứt xà beng ở dọc đường không rõ vị trí.

Tại Kết luận định giá số 17/KL-ĐG ngày 28/10/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đakrông, kết luận: 01 két sắt hiệu Hòa Phát có trị giá tại thời điểm bị chiếm đoạt là 1.650.000 đồng; 01 máy tính xách tay hiệu ASUS ZENBOOK UX430UA có trị giá tại thời điểm bị chiếm đoạt là 18.500.000 đồng; 01 cặp da màu nâu, kích thước 36x30x10cm có trị giá tại thời điểm bị chiếm đoạt là 270.000 đồng; 01 cặp da màu đen, kích thước 39x27x6cm có trị giá tại thời điểm bị chiếm đoạt là 1.350.000 đồng. Trị giá tài sản tại thời điểm bị chiếm đoạt là 21.770.000 đồng.

*Vật chứng, tài sản thu giữ gồm:

+ 01 xe mô tô hiệu Yamaha Taurus, màu đen, biển kiểm soát 74K4-4873, số máy 16S2-083735, số khung RLCS168209Y083731, đã qua sử dụng.

+ 01 ly thủy tinh màu trắng trong, kích thước 08x07cm, đã qua sử dụng.

+ 02 lọ thủy tinh nước yến sào nhãn hiệu Lingnest, kích thước mỗi lọ: 07cm x 05cm, đã qua sử dụng.

+01 chìa khóa bị gãy, màu trắng, làm bằng kim loại. - 02 (hai) chìa khóa cửa, màu trắng, làm bằng kim loại.

+ 01 bình kim loại, màu xám, cao 22,95 cm, đường kính nhỏ nhất đường kính lớn nhất 07 cm.

+ 01 ly uống nước, loại gốm sứ, màu trắng, có in hoa văn, cao 11 cm, 4,5 cm, đường kính rộng nhất 8,5 cm, đường kính nhỏ nhất 6 cm.

+ 01 vòi nước, bằng nhựa của bình nước Newstar, màu xanh.

+ 01 chai nhựa, màu tím, cao 22 cm, đường kính lớn nhất 06 cm, đường kính nhỏ nhất 04 cm, đã qua sử dụng.

+ 02 phong bì giấy màu trắng.

+ 01 két sắt hiệu Hòa Phát, kích thước 89x55x40cm.

+ 01 ca nhựa, màu trắng, có nhãn ghi Đại Đồng Tiến, loại 02 lít, đường kính lớn nhất 14 cm, đường kính nhỏ nhất 12 cm, cao 16,5 cm.

+ 01 hộp sữa có nhãn ghi Fami, 200ml, kèm theo 01 ống hút màu trắng.

+01 két bằng kim loại, hiệu Hòa Phát, màu xanh, kích thước 52x36x80cm, đã bị cạy phá.

+ 01 túi nilong đựng tài liệu màu trắng trong, kích thước 36x25cm.

+ 01 bì thư màu trắng bằng giấy, kích thước 32x30cm.

+ 01 túi nilong màu xanh da trời, kích thước 32x30cm.

+ 01 két sắt, kích thước 61x41x33cm, đã bị hư hỏng.

+ 01 con heo đất, màu cam bị vỡ ở phần lưng.

+ 01 xà beng bằng kim loại, dài 57 cm, đường kính 02 cm.

+ 01 thanh kim loại, dạng hộp, kích thước 25,3x1,4x1,4cm;

+ 01 thanh kim loại, dạng hộp, kích thước 26,5x1,4x1,4cm.

+ 01 cặp da màu nâu, kích thước 36x30x10cm.

+ 01 cặp da màu đen, kích thước 39x27x06cm.

+ 01 bao gai màu cam, kích thước 1x0,55m.

+ 01 cục đá màu xám, kích thước 30x20x16cm.

Tại bản Cáo trạng số 37/CT-VKS-ĐH ngày 30 tháng 3 năm 2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà đã truy tố bị cáo Lê Cảnh S về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a Khoản 3 Điều 173 của Bộ luật Hình sự với tình tiết định khung:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;...”.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm a Khoản 3 Điều 173 ; Điểm b, r, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điểm g Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Cảnh S (Ch) từ 10 năm đến 10 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho: Công đoàn Công ty thủy điện Q số tiền 6.000.000 đồng; ông Nguyễn Thanh H1 25.000.000 đồng; Đoàn khối Cơ quan và Doanh nghiệp tỉnh Q 127.000.000 đồng; Trung tâm Nghiên cứu ứng dụng và thông tin khoa học và công nghệ Q (Nay là Trung tâm Nghiên cứu, Chuyển giao công nghệ và Đổi mới Q) 90.421.000 đồng; Chị Đoàn Thị Khánh L 138.000.000 đồng; chị Bùi Thị Q 37.980.000 đồng; ông Nguyễn Trí T 18.500.000 đồng.

Chị Nguyễn Kim Kỳ D đã nhận bồi thường số tiền 1.000.000 đồng bị lấy trộm vào ngày 25/6/2020, chị Võ Thị Minh Ng đã nhận bồi thường số tiền 3.700.000 đồng không ai có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 xe mô tô hiệu Yamaha Taurus, màu đen, biển kiểm soát 74K4-4873, số máy: 16S2-083735, số khung: RLCS168209Y083731, đã qua sử dụng; Tịch thu và tiêu hủy: 01 xà beng bằng kim loại, dài 57 cm, đường kính 02 cm; 01 bao gai màu cam, kích thước 1x0,55m; 01 cục đá màu xám, kích thước 30x20x16cm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố và xét xử, Hội đồng xét xử nhận thấy: Hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đông Hà, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Cảnh S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản cáo trạng đã có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 25/6/2020 đến ngày 01/11/2020, Lê Cảnh S đã 06 lần thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác trên địa bàn thành phố Đông Hà với tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 474.101.000 đồng. Ngoài ra, vào ngày 23/10/2020, Lê Cảnh S còn thực hiện 01 vụ trộm cắp tài sản tại địa bàn huyện Đakrông với trị giá tài sản chiếm đoạt là 21.770.000 đồng. Tổng trị giá tài sản mà Lê Cảnh S đã chiếm đoạt là 495.871.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét về tính chất hành vi của bị cáo: Bị cáo là một thanh niên có sức khỏe có đầy đủ năng lực hành vi hình sự, nhưng trong một thời gian ngắn đã liên tục thực hiện nhiều hành vi trộm cắp tài sản. Bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội với quyết tâm cao, từ việc quan sát, tìm hiểu địa hình, vật kiến trúc là các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức ở xa trung tâm, chuẩn bị sẵn công cụ phương tiện, lợi dụng đêm khuya thanh vắng là thời gian mọi người phải nghỉ ngơi để đột nhập. Bị cáo thực hiện hành vi một cách táo bạo, liều lĩnh, cơ quan này sang cơ quan khác, từ phòng làm việc này sang phòng làm việc khác. Tài sản bị cáo đã chiếm đoạt có giá trị rất lớn. Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong nhân dân và ảnh hưởng rất xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương. Vì vậy, cần xử phạt nghiêm minh với hình phạt tù có thời hạn nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo thực hiện 07 lần trộm cắp tài sản nên phải chịu tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại các điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, đã tự thú về hành vi phạm tội của mình, tác động gia đình bồi thường cho những bị hại với số tiền 49.700.000 đồng. Nhiều bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tiếp tục ban hành quyết định tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Quá trình điều tra, bị cáo khai nhận còn nhận: Bằng thủ đoạn tương tự, S đã đột nhập vào trụ sở Ủy ban nhân dân thị trấn Lao Bảo, huyện Hướng Hóa cạy phá các phòng làm việc và lấy trộm được số tiền 1.000.000 đồng vào khoảng tháng 12/2020. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đông Hà đã thông báo cho cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hướng Hóa giải quyết theo thẩm quyền.

Về trách nhiệm dân sự:

Chị Nguyễn Kim Kỳ D đã được bồi thường số tiền 1.000.000 đồng bị lấy trộm vào ngày 25/6/2020, chị Võ Thị Minh Ng đã được bồi thường số tiền 3.700.000 đồng, không ai có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

Công đoàn Công ty thủy điện Q yêu cầu bồi thường số tiền 6.000.000 đồng; ông Nguyễn Thanh H1 đã nhận số tiền bồi thường 15.000.000 đồng và yêu cầu tiếp tục bồi thường số tiền 25.000.000 đồng; Đoàn khối Cơ quan và Doanh nghiệp tỉnh Q yêu cầu bồi thường số tiền 127.000.000 đồng; Trung tâm Nghiên cứu, Chuyển giao công nghệ và Đổi mới Q(tức là: Trung tâm Nghiên cứu ứng dụng và thông tin khoa học và công nghệ Q) yêu cầu được bồi thường số tiền 90.421.000 đồng; Chị Đoàn Thị Khánh L đã nhận số tiền bồi thường 15.000.000 đồng và yêu cầu tiếp tục bồi thường số tiền 138.000.000 đồng; chị Bùi Thị Q đã nhận số tiền bồi thường 15.000.000 đồng và yêu cầu tiếp tục bồi thường số tiền 37.980.000 đồng; ông Nguyễn Trí T yêu cầu bồi thường số tiền 18.500.000 đồng. Yêu cầu bồi thường trên của các bị hại đều hợp pháp có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về xử lý vật chứng:

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản, gồm: 01 ly thủy tinh màu trắng trong, kích thước 08x07cm, đã qua sử dụng; 02 lọ thủy tinh nước yến sào nhãn hiệu Lingnest, kích thước mỗi lọ: 07cm x 05cm, đã qua sử dụng; 01 chìa khóa bị gãy, màu trắng, làm bằng kim loại. 02 (hai) chìa khóa cửa, màu trắng, làm bằng kim loại; 01 bình kim loại, màu xám, cao 22,95 cm, đường kính nhỏ nhất đường kính lớn nhất 07 cm; 01 ly uống nước, loại gốm sứ, màu trắng, có in hoa văn, cao 11 cm, 4,5 cm, đường kính rộng nhất 8,5 cm, đường kính nhỏ nhất 6 cm; 01 vòi nước, bằng nhựa của bình nước Newstar, màu xanh; 01 chai nhựa, màu tím, cao 22 cm, đường kính lớn nhất 06 cm, đường kính nhỏ nhất 04 cm, đã qua sử dụng; 02 phong bì giấy màu trắng; 01 két sắt hiệu Hòa Phát, kích thước 89x55x40cm; 01 ca nhựa, màu trắng, có nhãn ghi Đại Đồng Tiến, loại 02 lít, đường kính lớn nhất 14 cm, đường kính nhỏ nhất 12 cm, cao 16,5 cm; 01 hộp sữa có nhãn ghi Fami, 200ml, kèm theo 01 ống hút màu trắng; 01 két bằng kim loại, hiệu Hòa Phát, màu xanh, kích thước 52x36x80cm, đã bị cạy phá; 01 túi nilong đựng tài liệu màu trắng trong, kích thước 36x25cm; 01 bì thư màu trắng bằng giấy, kích thước 32x30cm; 01 túi nilong màu xanh da trời, kích thước 32x30cm; 01 két sắt, kích thước 61x41x33cm, đã bị hư hỏng; 01 con heo đất, màu cam bị vỡ ở phần lưng; 01 thanh kim loại, dạng hộp, kích thước 25,3x1,4x1,4cm; 01 thanh kim loại, dạng hộp, kích thước 26,5x1,4x1,4cm; 01 cặp da màu nâu, kích thước 36x30x10cm; 01 cặp da màu đen, kích thước 39x27x06cm cho chủ sở hữu hợp pháp, không ai có yêu cầu gì, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Đối với 01 chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Taurus, màu đen, biển kiểm soát 74K4-4873, số máy: 16S2-083735, số khung: RLCS168209Y083731, là tài sản của bị cáo có trước thời kỳ hôn nhân. Bị cáo sử dụng làm công cụ phương tiện phạm tội nên tịch thu sung quỹ nhà nước.

- 01 xà beng bằng kim loại, dài 57 cm, đường kính 02 cm; 01 bao gai màu cam, kích thước 1x0,55m; 01 cục đá màu xám, kích thước 30x20x16cm là công cụ phương tiện bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Bị cáo phải nộp án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Tuyên bố bị cáo Lê Cảnh S (tên gọi khác: Ch) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ điểm a Khoản 3 Điều 173; Điểm b, r, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt: Lê Cảnh S (tên gọi khác: Ch): 10 năm 06 tháng (Mười năm, sáu tháng) tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (21/10/2022).

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Khoản 1 Điều 584; khoản 1 Điều 585 và khoản 1 Điều 589 Bộ luật dân sự, tuyên xử: Buộc bị cáo: Lê Cảnh S có nghĩa vụ bồi thường cho: Công đoàn Công ty thủy điện Q 6.000.000 đồng; Đoàn khối Cơ quan và Doanh nghiệp tỉnh Q 127.000.000 đồng; Trung tâm Nghiên cứu, Chuyển giao công nghệ và Đổi mới Q(tức là: Trung tâm Nghiên cứu ứng dụng và thông tin khoa học và công nghệ Q) 90.421.000 đồng; ông Nguyễn Thanh H1 25.000.000 đồng; Chị Đoàn Thị Khánh L 138.000.000 đồng; chị Bùi Thị Q 37.980.000 đồng; ông Nguyễn Trí T 18.500.000 đồng. Tổng cộng: 442.901.000 đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không chịu thi hành khoản tiền trên, thì hàng tháng còn phải chịu thêm khoản tiền lãi tương ứng với số tiền chậm thi hành án, tại thời điểm thanh toán. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử:

- Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 xe mô tô hiệu Yamaha Taurus, màu đen, biển kiểm soát 74K4-4873, số khung: RLCS168209Y083731, số máy: 16S2-083735, đã qua sử dụng;

- Tịch thu và tiêu hủy: 01 xà beng bằng kim loại, dài 57 cm, đường kính 02 cm; 01 bao gai màu cam, kích thước 1x0,55m và 01 cục đá màu xám, kích thước 30x20x16cm.

(Vật chứng hiện có tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa cơ quan Điều tra Công an thành phố Đông Hà và Cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà lập ngày 12/5/2023).

Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 21.716.000 (Hai mươi mốt triệu bảy trăm mười sáu nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, tính từ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, tính từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết./.

Cỡ chữ