- Tranh chấp gì? án hình sự — "Gây rối trật tự công cộng - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Lương Văn T, Phạm Quang H, Phạm Hồng S, Lương Văn Q và Lương Văn Th phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật hình sự xử mức án dưới khung hình phạt; Điều 584 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y TINH NINH BINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 67 /2023/ HS-ST Ngày: 20/ 11/ 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH NINH BÌNH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Nhật Trung.
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phùng Thị Hằng và ông Nguyễn Hà Giang.
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Lê Thị Kim Hạnh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Y, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Phạm Xuân Đình - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 58/2023/TLST- HS ngày 03 tháng 11 năm 2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2023/ QĐXXST- HS ngày 09 tháng 11 năm 2023 đối với các bị cáo:
1- Họ và tên: Lương Văn T, sinh năm 1977, nơi sinh: Tại tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Xóm 1 Xuân T, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên Chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Văn X (đã chết) và bà Phạm Thị L; có vợ: Chị Nguyễn Thị Th và có 03 con, con lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2016.
Tiền án; tiền sự: Không.
Về nhân thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 04/2012/HSST ngày 22/02/2012, bị Tòa án nhân dân huyện Y xử phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”; buộc phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và bồi thường thiệt hại cho anh Đinh Hoàng L 4.805.764 đồng. Năm 2012, Lương Văn T đã chấp hành xong hình phạt và án phí. Phần bồi thường thiệt hại đã hết thời hiệu thi hành án vì anh Đinh Hoàng L không có đơn yêu cầu thi hành án.
Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 05/QĐ-XPHC ngày 27/02/2020, bị Công an xã K xử phạt 1.000.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”. Ngày 13/3/2020, Lương Văn T chấp hành xong Quyết định.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/5/2023 đến ngày 18/5/2023 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình; có mặt.
2- Họ và tên: Phạm Quang H, sinh năm 1993, nơi sinh: Tại tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Xóm 6 Vân T, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên Chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn C và bà Phạm Thị T; vợ, con: Chưa có.
Tiền án; tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 03/8/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình; có mặt.
3- Họ và tên: Phạm Hồng S, sinh năm 1993, nơi sinh: Tại tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Xóm 6 Vân T, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên Chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn S và bà Vũ Thị L; có vợ: Chị Hoàng Thị T và có 02 con, con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2023.
Tiền án; tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 03/8/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình; có mặt.
4- Họ và tên: Lương Văn Q, sinh năm 1987, nơi sinh: Tại tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Xóm 3 Xuân T, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên Chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Văn X (đã chết) và bà Phạm Thị L; có vợ: Chị Đoàn Thị G và có 03 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2014.
Tiền án; tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/5/2023 đến ngày 18/5/2023 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Y, tỉnh Ninh Bình; có mặt.
5- Họ và tên: Lương Văn Th, sinh năm 1973, nơi sinh: Tại tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Xóm 3 Xuân T, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên Chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Văn X (đã chết) và bà Phạm Thị L; có vợ: Chị Hoàng Thị Đ và có 05 con, con lớn sinh năm 1994, con nhỏ sinh năm 2013.
Tiền án; tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/5/2023 đến ngày 18/5/2023 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Y, tỉnh Ninh Bình; có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Anh Hoàng Đình C, sinh năm 1992; trú tại: Xóm 4 Xuân T, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình, có mặt.
+ Anh Vũ Văn H, sinh năm 1991; trú tại: Xóm 1 Xuân T, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình, vắng mặt.
+ Chị Hoàng Thị T, sinh năm 1998; trú tại: Xóm 6 Vân T, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình, có mặt.
+ Anh Lương Trung K, sinh năm 2000; trú tại: Xóm 1 Xuân T, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình, có mặt.
+ Chị Đoàn Thị G; sinh năm 1987; trú tại: Xóm 3 Xuân T, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình, có mặt.
+ Chị Hoàng Thị Đ; sinh năm 1974; trú tại: Xóm 3 Xuân T, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình, vắng mặt.
+ Chị Lương Thị H; sinh năm 2001; trú tại: Xóm 3 Xuân T, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình, có mặt.
- Người làm chứng: Anh Lương Ngọc T, có mặt. Anh Nguyễn Hoàng M, ông Nguyễn Văn Q; anh Phạm Văn T; chị Lã Thị T; ông Hoàng Sơn T; anh Nguyễn Văn Th; chị Nguyễn Thị L; anh Dương Khắc C; bà Bùi Thị X; ông Bùi Văn T; chị Phạm Thị T; bà Nguyễn Thị N; đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chiều ngày 10/5/2023, Phạm Hồng S, Phạm Quang H, đều sinh năm 1993 và trú tại xóm 6 Vân T, xã K, huyện Y đến cửa hàng sửa chữa xe máy của anh Hoàng Đình C, sinh năm 1992 bên đường trục xã K thuộc xóm 1 Xuân T, xã K để sửa máy tời. Khoảng 16 giờ cùng ngày, Lương Văn T, sinh năm 1977, trú tại xóm 1, Xuân T, xã K đến nhà mẹ vợ là bà Trần Thị H, sinh năm 1949 giáp với quán của anh C thì thấy có nhiều đồ đạc để trên đường trước cửa quán nên đã nhiều lần chửi bới H, S anh C. H và S cũng chửi bới thách thức lại T. T đi về nhà mình lấy 01 con dao (Dạng dao mèo) quay lại tìm anh S và anh H để đánh. Khi đến nơi, T thấy H đang ngồi hút thuốc lào ở cửa quán của anh C thì giơ dao về phía H chửi“Đ.m cái thằng hút thuốc lào kia, tao chém chết mẹ mày”. Khi thấy Trung cầm dao đến thì H cũng cầm 01 đoạn sắt hộp hình vuông đứng dậy và chửi “Đ.m ông chửi ai đấy”. Sau đó, T lao đến vung dao chém về phía anh H nhưng không trúng; đồng thời H cũng cầm đoạn sắt lao đến vụt trúng vai của T rồi bỏ chạy trên đường trục xã K về hướng nhà thờ giáo xứ Yên Vân. T đuổi phía sau vung dao chém nhiều lần về phía H, trong đó có 01 phát trúng nách phải của H. Lúc này, S cầm 01 đoạn sắt chạy từ trong quán của anh C đuổi theo vụt T nhưng không trúng. H chạy một đoạn thì quay người lại dùng đoạn sắt vụt trúng cẳng tay trái của T, còn Sơn vòng ra phía sau tiếp tục vụt trúng vào lưng của T. Cùng lúc này, khi bị S và H dùng gậy sắt vụt thì T vung dao chém trúng trán bên phải của anh H làm dao rơi xuống đường. S lao đến vật T ngã xuống đường thì H dùng gậy sắt vụt 01 phát vào chân trái của T. Sau đó, anh Hoàng Đình C và anh Lương Văn K, sinh năm 2000 (là con trai của T) cùng người dân can ngăn đẩy T về nhà và đưa H, S đến Trạm y tế xã K sơ cứu. Khi về nhà, T vào bếp lấy 02 con dao bầu chạy ra để tiếp tục đánh H và S nhưng không thấy hai người này. Lúc này, Công an xã K nhận được tin báo đã đến khống chế, tước 02 con dao của T.
Quá trình T, S, H đánh nhau, bà Lã Thị H, sinh năm 1963, trú tại xóm 1 Xuân T, xã K đã nói sự việc với Lương Văn Th, sinh năm 1973 và Lương Văn Q, sinh năm 1987 đều trú tại xóm 3, Xuân T, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình là anh em ruột của T. Sau đó, Th điều khiển xe đạp điện, còn Q điều khiển xe mô tô Yamaha Sirius biển kiểm soát 35B1-216.30 cầm theo một đoạn ống sắt đến trước cửa quán của anh C thì chị Lã Thị T, sinh năm 1977, trú tại xóm 1, Xuân T, xã K đã giằng lấy ống sắt của Q mang về nhà mình. Q chạy vào cửa quán và lao đạp đổ xe mô tô Yamaha biển kiểm soát 35M1-5761 của anh Vũ Văn H, trú tại xóm 1 Xuân T, xã K dựng trước cửa quán, rồi tiếp tục chạy vào trong quán cầm 01 thanh sắt hình hộp đập làm hư hỏng xe mô tô Detech số khung 003084, số máy 003084 và xe mô tô Fevor biển kiểm soát 35H8-2409 anh C đang dựng trong quán để sửa; đập vỡ 01 bóng điện. Lúc này, Th cũng chạy vào trong quán nhặt 01 thanh kim loại đập phá xe mô tô 33M4 - 3290, đập vỡ 01 mắt camera (đã bị hư hỏng từ trước) và các đồ đạc để trong quán. Sau đó, T, Th và Q đứng ở đường trước cửa quán chửi bới. Th đi đến Trạm y tế xã K ở xóm 4 Vân T, xã K chửi bới, định lao vào đánh S và H thì bị lực lượng Công an xã K ngăn chặn.
UBND xã K, Chi bộ, Xóm trưởng, Đoàn thanh niên xóm 1 Xuân T có văn bản đề nghị xử lý nghiêm các đối tượng tham gia đánh nhau, đập phá tài sản vì sự việc xảy ra tại đường trục xã K, là nơi công cộng có nhiều người và phương tiện qua lại; hai bên đường là khu dân cư có nhiều người sinh sống; hành vi của các đối tượng đã gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội tại địa phương, gây tâm lý hoang mang, lo sợ cho người dân.
Hậu quả về thương tích: Phạm Quang H bị 01 vết thương vùng trán phải khoảng 05cm bờ sắc gọn rỉ máu; 01 vết thương vị trí đường nách trước phải khoảng 05cm.
Phạm Hồng S bị 01 vết thương má phải KT (2 x 0,5) cm, nông bờ khá gọn; sưng nề vùng mặt.
Lương Văn T bị sưng nề cẳng tay bên trái KT (5 x 7)cm kèm theo xây xước da vùng khuỷu tay; mặt sau cẳng chân trái có vùng sưng nề đau tím KT (10 x 1)cm; hông dưới hốc nách bên phải bị sưng nề, tụ máu KT (3 x 3)cm.
Tại Bản kết luận giám định số 131/KLTTCT-TTPY ngày 21/9/2023, Trung tâm pháp y tỉnh Ninh Bình kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Phạm Quang H là 17%.
Cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã ra Quyết định trưng cầu giám định pháp y xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lương Văn T, Phạm Hồng S nhưng T và S đều từ chối giám định.
Hậu quả về thiệt hại tài sản: Xe mô tô biển kiểm soát 33M4-3290, số khung 003084, số máy 003084 bị vỡ hư hỏng hoàn toàn bộ nhựa bàn thờ đầu xe, dè chắn bùn phía trước, nắp nhựa xin nhan trước bên phải, củ đèn xin nhan bên trái;
Xe mô tô Fervor biển kiểm soát 35H8-2409 bị vỡ hư hỏng hoàn toàn củ đồng hồ, nhựa đồng hồ báo tốc độ, củ đèn xin nhan trước bên trái;
Xe mô tô Yamaha biển kiểm soát 35M1-5761 bị vỡ hư hỏng hoàn toàn gương bên trái;
01 quạt trần màu xanh có 03 cánh quạt bị cong vênh hư hỏng hoàn toàn; 01 bóng điện nhãn hiệu Thiên Long kích thước (0,21x0,13)m bị vỡ hư hỏng hoàn toàn.
Tại kết luận định giá tài sản số 18/KL-HĐĐGTS ngày 25/7/2023, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Y kết luận: Giá trị thiệt hại của xe mô tô biển kiểm soát 33M4-3290, số khung 003084, số máy 003084 là 598.300 đồng; giá trị thiệt hại của xe mô tô Fervor biển kiểm soát 35H8-2409 là 260.000 đồng; giá trị thiệt hại của xe mô tô Yamaha biển kiểm soát 35M1-5761 là 20.000 đồng; giá trị thiệt hại của quạt trần là 803.000 đồng; giá trị thiệt hại của bóng đèn nhựa là 123.300 đồng. Tổng giá trị thiệt hại của các tài sản trên là 1.804.900 đồng.
Đối với 01 mắt camera bị vỡ, quá trình điều tra anh Hoàng Đình C khai đã bị hỏng, không còn giá trị trước ngày 10/5/2023.
Cơ quan CSĐT Công an huyện Y, đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu giữ vật chứng, trích xuất thu giữ từ hệ thống camera an ninh được lắp đặt tại Trạm y tế xã K, tại quán sửa xe của anh Hoàng Đình C và nhà dân bên đường 06 tệp tin video ghi lại hình ảnh các đối tượng đuổi đánh nhau, đập phá tài sản và tiến hành trưng cầu giám định. Tại Kết luận giám định số 668/KL - KTHS - KTS&ĐT ngày 18/8/2023, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 06 tệp tin video gửi giám định.
Về thu giữ, xử lý vật chứng: Cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã thu giữ và trả lại cho anh Hoàng Đình C 01 xe mô tô Detech số khung 003084, số máy 003084 cùng giấy đăng ký của xe, 01 đuôi xe mô tô mang biển kiểm soát 33M4-3290, các mảnh nhựa vỡ màu đen, 01 thanh nhựa chân đỡ của máy ghi hình, 06 thanh kim loại dạng hình hộp, hình trụ các loại; 01 bóng đèn nhựa màu trắng bị vỡ, 01 vỏ đui bóng đèn vàng nhựa màu đen, 01 quạt trần màu xanh, các mảnh nhựa vỡ của xe mô tô; thu giữ và trả lại cho chị Hoàng Thị T, sinh năm 1998, trú tại xóm 6, Vân T, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình 01 xe mô tô biển kiểm soát 35H8-2409 cùng giấy đăng ký của xe; thu giữ và trả lại cho anh Vũ Văn H 01 xe mô tô Yamaha biển kiểm soát 35M1-5761; thu giữ và trả lại cho chị Lương Thị H, sinh năm 2001, trú tại xóm 3, Xuân T, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình 01 xe đạp điện; thu giữ và trả lại cho chị Đoàn Thị G, sinh năm 1987 (là vợ của Lương Văn Q) 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát 35B1-216.30 cùng giấy đăng ký của xe.
Đưa vào hồ sơ vụ án 01 phong bì niêm phong bên trong có 04 USB chứa 06 tệp tin video đã thu giữ.
Các vật chứng còn lại gồm: 01 dao dài 47cm (chuôi dao bằng gỗ dài 16,8cm, lưỡi bằng kim loại loại dạng 01 lưỡi mũi nhọn dài 30,02cm), 01 dao bầu (chuôi bằng gỗ dài 12cm, lưỡi bằng kim loại dạng 01 lưỡi mũi nhọn dài 25cm), 01 dao bầu (chuôi dao bằng gỗ dài 12cm, lưỡi bằng kim loại dạng 01 lưỡi mũi nhọn dài 21cm), 01 ống sắt bằng kim loại hình trụ sáng màu dài 95cm, đường kính 03cm; chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Y tiếp tục quản lý để đảm bảo việc xét xử và thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Lương Văn Th, Lương Văn Q đã tự nguyện bồi thường thiệt hại một lần cho anh Hoàng Đình C với tổng số tiền là 3.000.000 đồng.
Phạm Quang H yêu cầu Lương Văn T phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho Hạnh theo quy định của pháp luật.
Lương Văn T, Phạm Hồng S và anh Vũ Văn H, chị Hoàng Thị T không có yêu cầu về trách nhiệm dân sự.
Quá trình điều tra, Lương Văn T, Lương Văn Q, Lương Văn Th, Phạm Hồng S, Phạm Quang H đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như trên.
Tại bản cáo trạng số 62/CT-VKSYK ngày 01 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, tỉnh Ninh Bình đã truy tố các bị cáo Lương Văn T, Phạm Quang H, Phạm Hồng S, Lương Văn Q, Lương Văn Th ra trước Tòa án nhân dân huyện Y để xét xử về tội: “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Lương Văn T, Phạm Quang H, Phạm Hồng S, Lương Văn Q, Lương Văn Th phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lương Văn T.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Phạm Quang H, Phạm Hồng S, Lương Văn Q, Lương Văn Th, xử phạt:
Bị cáo Lương Văn T từ 24 tháng đến 27 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ tạm giữ 11/5/2023.
Bị cáo Phạm Quang H, Phạm Hồng S mỗi bị cáo từ 13 tháng đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 03/8/2023.
Bị cáo Lương Văn Q, Lương Văn Th mỗi bị cáo từ 13 tháng đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ tạm giữ, ngày 11/5/2023,
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 584, 585 và 590 Bộ luật Dân sự, buộc Lương Văn T phải bồi thường về sức khỏe cho Phạm Quang H, tổng số tiền là: 29.749.100 đồng.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu tiêu hủy 01 dao dài 47cm (chuôi dao bằng gỗ dài 16,8cm, lưỡi bằng kim loại loại dạng 01 lưỡi mũi nhọn dài 30,02cm), 01 dao bầu (chuôi bằng gỗ dài 12cm, lưỡi bằng kim loại dạng 01 lưỡi mũi nhọn dài 25cm), 01 dao bầu (chuôi dao bằng gỗ dài 12cm, lưỡi bằng kim loại dạng 01 lưỡi mũi nhọn dài 21cm), 01 ống sắt bằng kim loại hình trụ sáng màu dài 95cm, đường kính 03cm.
Các bị cáo phải nộp án phí hình sự; án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Đối với anh C, chị T, anh K, chị G, chị Đ, chị H đều không có yêu cầu gì đối với các bị cáo nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Các bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì, nhận thấy hành vi phạm tội là vi phạm pháp luật nên xin Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để các bị cáo sửa chữa lỗi lầm, sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa không có ai có ý kiến khiếu nại về hành vi, Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, Quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo Lương Văn T, Phạm Quang H, Phạm Hồng S, Lương Văn Q và Lương Văn Th đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Y đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người liên quan, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thu giữ vật chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Từ những chứng cứ nêu trên có đủ cơ sở kết luận: Vào chiều ngày 10/5/2023 khi bị cáo S, H, đến cửa hàng sửa chữa xe máy của anh C, bên đường trục xã K để sửa máy tời. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, thì T đi đến nhà bà H nhìn thấy có nhiều đồ đạc để trên đường trước cửa quán nên chửi bới H, S và anh C nhiều lần. H và S cũng chửi bới, thách thức lại T. T đi về nhà mình lấy 01 con dao rồi quay lại tìm S, H để đánh. Khi đến nơi, T thấy H đang ngồi hút thuốc lào ở cửa quán của anh C thì giơ dao về phía H chửi“Đ.m cái thằng hút thuốc lào kia, tao chém chết mẹ mày”. Khi thấy T cầm dao đến thì H cũng cầm 01 đoạn sắt hộp hình vuông đứng dậy và chửi“Đ.m ông chửi ai đấy”. Sau đó, T lao đến vung dao chém về phía anh H nhưng không trúng; đồng thời H cũng cầm đoạn sắt lao đến vụt trúng vai của T rồi bỏ chạy trên đường trục xã K về hướng nhà thờ giáo xứ Yên Vân. T đuổi phía sau vung dao chém nhiều lần về phía H, trong đó có 01 phát trúng nách phải của H. Lúc này, S cầm 01 đoạn sắt chạy từ trong quán của anh C đuổi theo vụt T nhưng không trúng. H chạy một đoạn thì quay người lại dùng đoạn sắt vụt trúng cẳng tay trái của T, còn S vòng ra phía sau tiếp tục vụt trúng vào lưng của T. Cùng lúc này T vung dao chém trúng trán bên phải của H làm dao rơi xuống đường. S lao đến vật T ngã xuống đường thì H dùng gậy sắt vụt 01 phát vào chân trái của T. Sau đó, anh C, anh K, cùng người dân can ngăn đẩy T về nhà, còn đưa H, S đến Trạm y tế xã K sơ cứu. Khi về nhà, T vào bếp lấy 02 con dao bầu chạy ra để tiếp tục đánh H và S thì bị Công an xã K khống chế, tước 02 con dao của T.
Bị cáo Th và Q, khi nghe bà H nói sự việc T, S, H đánh nhau. Th điều khiển xe đạp điện, còn Q điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 35B1-216.30 cầm theo một đoạn ống sắt đến trước cửa quán của anh C thì chị T đã giằng lấy ống sắt của Q mang về nhà mình. Q chạy vào cửa quán và lao đạp đổ xe mô tô Yamaha biển kiểm soát 35M1-5761 của anh H dựng trước cửa quán rồi tiếp tục chạy vào bên trong quán cầm 01 thanh sắt hình hộp đập, làm hư hỏng xe mô tô Detech số khung 003084, số máy 003084 và xe mô tô Fevor biển kiểm soát 35H8-2409 anh C đang dựng trong quán để sửa; đập vỡ 01 bóng điện. Lúc này, Th cũng chạy vào trong quán nhặt 01 thanh kim loại đập phá xe mô tô 33M4 - 3290, đập vỡ 01 mắt camera và các đồ đạc để trong quán. Sau đó, T, Th và Q đứng ở đường trước cửa quán chửi bới. Th đi đến Trạm y tế xã K ở xóm 4 Vân T, xã K chửi bới, định lao vào đánh S và H thì bị lực lượng Công an xã K ngăn chặn.
Hậu quả: H bị 01 vết thương vùng trán phải khoảng 05cm bờ sắc gọn rỉ máu; 01 vết thương vị trí đường nách trước phải khoảng 05cm. Điều trị tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình từ ngày 10/5/2023 đến ngày 23/5/2023 thì ra viện.
S bị 01 vết thương má phải KT (2 x 0,5) cm; sưng nề vùng mặt. Điều trị tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình từ ngày 10/5/2023 đến ngày 12/5/2023 thì ra viện.
T bị sưng nề cẳng tay bên trái KT (5 x 7)cm kèm theo xây xước da vùng khuỷu tay; mặt sau cẳng chân trái có vùng sưng nề đau tím KT (10 x 1)cm; hông dưới hốc nách bên phải bị sưng nề, tụ máu KT (3 x 3)cm. Đến khám tại Trung tâm y tế huyện Y và xin về không điều trị.
Tại Bản kết luận giám định số 131/KLTTCT-TTPY ngày 21/9/2023, Trung tâm pháp y tỉnh Ninh Bình kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Phạm Quang H là 17%.
Tại kết luận định giá tài sản số 18/KL-HĐĐGTS ngày 25/7/2023, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Y kết luận: Giá trị thiệt hại của xe mô tô biển kiểm soát 33M4-3290, số khung 003084, số máy 003084 là 598.300 đồng; giá trị thiệt hại của xe mô tô Fervor biển kiểm soát 35H8-2409 là 260.000 đồng; giá trị thiệt hại của xe mô tô Yamaha biển kiểm soát 35M1-5761 là 20.000 đồng; giá trị thiệt hại của quạt trần là 803.000 đồng; giá trị thiệt hại của bóng đèn nhựa là 123.300 đồng. Tổng giá trị thiệt hại của các tài sản trên là 1.804.900 đồng.
Quá trình điều tra Cơ quan CSĐT đã ra Quyết định trưng cầu giám định xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của T, S nhưng đều từ chối giám định. Trong quá trình điều tra đã trích xuất thu giữ từ hệ thống camera an ninh được lắp đặt tại Trạm y tế xã K, tại quán sửa xe của anh Hoàng Đình C và nhà dân bên đường 06 tệp tin video ghi lại hình ảnh các đối tượng đuổi đánh nhau, đập phá tài sản và tiến hành trưng cầu giám định. Tại Kết luận giám định số 668/KL - KTHS - KTS&ĐT ngày 18/8/2023, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 06 tệp tin video gửi giám định.
Nội dung Điều 318 tội gây rối trật tự công cộng của Bộ luật hình sự quy định:
1. Người nào gây rối trật tự công cộng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
…
b) Dùng vũ khí, hung khí hoặc có hành vi phá phách;
....
Bị cáo T, H, S, Th, Q đều có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi mà các bị cáo đã chửi bới, rồi dùng dao, gậy sắt và hò hét đuổi đánh lẫn nhau trên đường giao thông khu vực xã K là nơi công cộng, đông dân cư, gây tâm lý hoang mang, sợ hãi cho người dân, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự. Do vậy, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng”, với tình tiết định khung hình phạt theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Y đã truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi gây rối trật tự công cộng của các bị cáo đã xâm phạm tới trật tự an ninh xã hội, nguyên tắc an toàn nơi công cộng, nơi có nhiều phương tiện và đông người tham gia giao thông, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội, ngoài ra còn xâm phạm đến sức khỏe của con người được pháp luật bảo vệ. Do đó phải xử lý nghiêm, tương xứng với hành vi của các bị cáo, mới có tác dụng đối với các bị cáo và có tính chất phòng ngừa, ngăn chặn chung trong xã hội.
Xét vị trí, vai trò của các bị cáo thì thấy rằng đây là vụ án đồng phạm. Trong đó, bị cáo T là người đã chủ động chửi bới S và H, rồi dùng dao đổi chém H và S nên giữ vai trò đầu vụ, do đó về trách nhiệm hình sự của bị cáo phải chịu là cao hơn so với các bị cáo khác. Đối với bị cáo S, H là người trực tiếp cầm hung khí và tham gia đánh nhau, Q, Th dùng đoạn sắt đập phá tài sản và chởi bới. Các bị cáo đều là người thực hành tích cực nên giữ vai trò sau T, nên về trách nhiệm hình sự là ngang nhau là phù hợp.
Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Bị cáo T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và có hoàn cảnh khó khăn được chính quyền xác nhận nên có tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Q, Th đã thông qua gia đình tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại về tài sản cho anh C. Bị cáo S, H đã tự nguyện nộp số tiền theo đơn yêu cầu bồi thường của T, tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Y và thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, ngoài ra gia đình các bị cáo có đơn xác nhận của chính quyền địa phương về gia đình có hoàn cảnh khó khăn nên có các tình tiết giảm nhẹ tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo là thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Xét thấy bị cáo H, S, Q, Th có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự xử mức án dưới khung hình phạt đối với các bị cáo là phù hợp.
Căn cứ quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo chỉ vì chút bực tức, thiếu kìm chế, cố chấp dẫn đến va chạm bằng vũ lực, xâm phạm đến tài sản, sức khỏe của con người và trật tự nơi công cộng, là thể hiện sự coi thường pháp luật, do vậy cần phải áp dụng hình phạt tù để tiếp tục cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để giáo dục các bị cáo trở thành người công dân tốt cho gia đình và xã hội.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Q, Th đã tự nguyện bồi thường cho anh Hoàng Đình C tổng số tiền 3.000.000 đồng. Nay anh C không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nên không xem xét.
Bị cáo Trung đã yêu cầu bị cáo H, S phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho T với tổng số tiền 5.000.000 đồng. Do vậy ông Phạm Văn C là bố của bị cáo H đã nộp số tiền 2.500.000 đồng, chị Hoàng Thị T là vợ của bị cáo S đã nộp số tiền 2.500.000 đồng, để bồi thường thiệt hại cho bị cáo T. Do vậy, cần buộc bị cáo H và S mỗi bị cáo phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe theo phần là 2.500.000 đồng cho bị cáo T. Được trừ vào số tiền ông Phạm Văn C, chị Hoàng Thị T đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Y theo biên lai thu số 0001758 và số 0001757 ngày 15/11/2023.
Phạm Quang H yêu cầu bị cáo T phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bị cáo H theo quy định của pháp luật. Căn cứ các Điều 584, 585 và 590 Bộ luật Dân sự, các khoản bị cáo T phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho bị cáo H gồm khoản: Tiền chi phí điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Bình ngoài bảo hiểm xã hội chi trả là 2.158.000 đồng. Tiền mua thuốc điều trị ngày 10/5/2023 là 2.556.900 đồng. Tiền mua thuốc điều trị ngày 22/5/2023: 5.200.200 đồng. Tiền bồi dưỡng phục hồi sức khỏe là 3.900.000 đồng. Tiền thu nhập bị mất của bị cáo H: Theo hợp đồng lao động của Công ty TNHH Vận tải Tuấn Huyền thì tiền lương hàng tháng của bị cáo H là 11.000.000 đồng. H phải điều trị trong thời gian 13 ngày kể từ ngày 10/5/2023 đến 23/5/2023. Như vậy tiền thu nhập bị mất của bị cáo H là 4.767.000 đồng. Tiền công của anh Phạm Văn D là em trai của H là người trực tiếp chăm sóc H trong thời gian 13 ngày nằm viện: Do anh D là lao động tự do với thu nhập bình quân 01 tháng là 5.000.000 đồng, theo văn bản cung cấp của UBND xã K về mức thu nhập bình quân hàng tháng của người dân trên địa bàn xã K. Do vậy, tiền thu nhập bị mất của anh D trong thời gian 13 ngày là 2.167.000 đồng. Tiền bù đắp tổn thất về tinh thần là 05 tháng lương cơ bản tổng là: 1.800.000 x 5 = 9.000.000 đồng. Như vậy tổng số tiền buộc bị cáo Trung phải bồi thường cho bị cáo H là: 29.749.100 đồng.
Xử lý vật chứng và tài sản thu giữ: Cơ quan điều tra đã thu giữ và trả lại các xe mô tô, xe đạp điện cho chủ sở hữu là phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với 01 dao dài 47cm. Chuôi dao bằng gỗ dài 16,8cm, lưỡi bằng kim loại sáng màu, lưỡi dao dạng 01 lưỡi mũi nhọn dài 30,02cm; 01 dao bầu dài 33cm. Chuôi dao bằng gỗ dài 12cm, lưỡi dao bằng kim loại dạng 01 lưỡi mũi nhọn dài 21cm; 01 dao bầu dài 37cm, Chuôi dao bằng gỗ dài 12cm, lưỡi dao bằng kim loại dạng 01 lưỡi mũi nhọn dài 25cm; 01 ống sắt bằng kim loại hình trụ sáng màu dài 95cm, đường kính 03cm, là vật chứng của vụ án cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội, bị kết án phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, đối với bị cáo Lương Văn T.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự, đối với các bị cáo Phạm Quang H, Phạm Hồng S, Lương Văn Q và Lương Văn Th.
Căn cứ Điều 357; khoản 1 Điều 584; Điều 585; Điều 590 Bộ luật dân sự:
Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự.
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23; khoản 1 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Tuyên bố bị cáo: Lương Văn T, Phạm Quang H, Phạm Hồng S, Lương Văn Q và Lương Văn Th phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Xử phạt bị cáo Lương Văn T 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ bị cáo, ngày 11 tháng 5 năm 2023.
Xử phạt bị cáo Phạm Quang H, Phạm Hồng S mỗi bị cáo 13 (mười ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam bị cáo, ngày 03 tháng 8 năm 2023.
Xử phạt bị cáo Lương Văn Q, Lương Văn Th mỗi bị cáo 13 (mười ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ bị cáo, ngày 11 tháng 5 năm 2023.
2. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Lương Văn T phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bị cáo Phạm Quang H tổng số tiền là 29.749.000 đồng (hai mươi chín triệu, bẩy trăm bốn mươi chín nghìn đồng đã làm tròn) gồm các khoản sau: Chi phí Tiền thuốc điều trị: 9.915.000 đồng. Chi phí tiền công lao động bị mất trong thời gian nằm viện: 13 ngày x 366.692 đồng/ngày = 4.767.000 đồng. Chi phí Tiền Công người chăm sóc trong thời gian năm viện: 13 ngày x 166.692 đồng/ngày = 2.167.000 đồng. Chi phí bồi dưỡng phục hồi sức khỏe là 3.900.000 đồng. Chi phí bồi dưỡng sức khỏe một lần bằng 05 tháng lương cơ bản: 05 tháng x 1.800.000 đồng = 9.000.000 đồng.
Kể từ ngày Phạm Quang H có đơn yêu cầu thi hành án đối với số tiền Lương Văn T phải bồi thường cho Hạnh về sức khỏe bị xâm phạm, cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng T còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 dao dài 47cm. Chuôi dao bằng gỗ dài 16,8cm, lưỡi bằng kim loại sáng màu, lưỡi dao dạng 01 lưỡi mũi nhọn dài 30,02cm); 01 dao bầu dài 33cm. Chuôi dao bằng gỗ dài 12cm, lưỡi dao bằng kim loại dạng 01 lưỡi mũi nhọn dài 21cm; 01 dao bầu dài 37cm, Chuôi dao bằng gỗ dài 12cm, lưỡi dao bằng kim loại dạng 01 lưỡi mũi nhọn dài 25cm; 01 ống sắt bằng kim loại hình trụ sáng màu dài 95cm, đường kính 03cm, là vật chứng của vụ án.
Số vật chứng trên có đặc điểm như mô tả tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/11/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y và Chi cục thi hành án dân sự huyện Y, tỉnh Ninh Bình.
4. Về án phí: Buộc bị cáo Lương Văn T, Phạm Quang H, Phạm Hồng S, Lương Văn Q và Lương Văn Th mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Riêng bị cáo T còn phải nộp 1.487.400 đồng (một triệu bốn trăm tám mươi bẩy nghìn bốn trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch để sung ngân sách Nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm các bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Bình; - VKSND tỉnh Ninh Bình; - VKSND huyện Y; - Cơ quan CSĐT.CA huyện Y; - Cơ quan THAHS huyện Y; - Trại tạm giam CA tỉnh Ninh Bình; - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ CA tỉnh Ninh Bình; - Chi cục THADS huyện Y; - Bị cáo. Người CQLNVLQ. - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Nhật Trung. |