vanban.org

Bản án 67/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang Tuyên án 19/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;

Tuyên bố: Bị cáo Đ.V.C phạm tội “Buôn bán hàng cấm”; bị cáo T.V.H phạm tội: “Tàng trữ hàng cấm”. Về hình phạt đối với các bị cáo: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ hàng cấm + Buôn bán hàng cấm - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 190 Bộ luật Hình sự; Điều 191 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN S.D
TỈNH T.Q

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67/2023/HS-ST
Ngày: 19/5/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S.D, TỈNH T.Q

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Minh Khánh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Hữu Lượng.

2. Ông Ma Quốc Thể.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện S.D.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện S.D tham gia phiên toà: Bà Lương Thị Thu Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 19/5/2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện S.D, tỉnh T.Q xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 49/2023/TLST-HS, ngày 07 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2023/QĐXXST-HS, ngày 05 tháng 5 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Đ.V.C, sinh ngày 27/5/1986 tại huyện S.D, tỉnh T.Q; nơi ĐKHKTT: Thôn M.R, xã C.T, huyện S.D, tỉnh T.Q; Giới tính: Nam; nghề ngH: Công nhân; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đ.V.N ( đã chết), con bà: T.T.B, sinh năm 1968; vợ: N.T.N, sinh năm 1988; con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2014; anh chị em ruột: Có 03 người, bị cáo là con thứ nhất; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 24/12/2022 đến ngày 30/12/2022. Hiện đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

2. T.V.H, sinh ngày 28/4/1995 tại huyện S.D, tỉnh T.Q; nơi ĐKHKTT: Thôn M.R, xã C.T, huyện S.D, tỉnh T.Q; Giới tính: Nam; nghề ngH: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Cao lan; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: T.V.B, sinh năm 1961 và bà: P.T.H, sinh năm 1968; vợ: L.T.Th, sinh năm 2001; con: Có 01 con, sinh năm 2021; anh chị em ruột: Có 03 người, bị cáo là con thứ ba; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại bản án số 36/2013/HSST, ngày 09/4/2013, Tòa án nhân dân huyện S.D xử phạt T.V.H 02 năm 03 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. H đã chấp hành xong bản án.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 24/12/2022 đến ngày 30/12/2022. Hiện đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

(Các bị cáo có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 11/2022, T.V.H nhờ Đ.V.C (là em họ của H) mua hộ 10 hộp pháo để sử dụng vào dịp tết, C đồng ý và nhắn tin qua mạng xã hội zalo với người có tài khoản “Thiên An” để thỏa thuận về việc muốn mua 10 hộp pháo loại giàn 49 quả/01 hộp với giá 600.000đ/01 hộp (loại pháo do Thái Lan sản xuất), C báo giá cho H 800.000đ/01 hộp lấy tiền chênh lệch, H đồng ý. Sau đó C mua 01 hộp pháo loại giàn 49 quả để dùng thử với giá 600.000đ và hẹn đầu tháng 12 lấy pháo tại khu vực đường ĐT186 thuộc thôn Tam Tinh, xã Vĩnh Lợi, huyện S.D.

Khoảng đầu tháng 12, C và H đến điểm hẹn thì thấy có 01 người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ đưa pháo cho C, C đưa cho người đàn ông đó 500.000đ và nợ lại số tiền 100.000đ, người đàn ông đồng ý cầm tiển rồi điều khiển xe mô tô đi. Sau khi mua được pháo, C và H ra khu vực giếng M.R, xã C.T để đốt thử 02 ống pháo, còn 47 ống pháo hai ngày sau H đã đốt hết tại khu vực bờ đê Sông Lô, thuộc thôn Phú Lương, xã C.T, huyện S.D.

Khoảng 18 giờ ngày 24/12/2022, người có tài khoản zalo “Thiên An” gọi điện cho C hỏi có mua pháo nữa không hoặc có ai mua thì giới thiệu, giá bán 600.000đ/hộp. Sau đó C gọi điện cho H hỏi H có mua pháo nữa không và báo giá 800.000đ/hộp, H trả lời có và nhờ C mua hộ. Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, C nói với H ra khu vực nhà máy giấy An Hòa để lấy pháo còn C sẽ đứng ở gần đó để cảnh giới nếu thấy có Công an sẽ báo cho H. H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 22B2-571.28 đến điểm hẹn gặp một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ, người đàn ông nói với H hiện tại chỉ có 04 hộp pháo, còn 06 hộp pháo chờ đến đêm vắng sẽ giao sau, giá bán là 800.000đ/01 hộp, H đồng ý và gọi điện thông báo với C. Sau đó, H đưa cho người đàn ông 3.200.000đ và được người đàn ông đưa cho H 04 hộp pháo loại giàn 49 quả được đựng trong 01 bao tải dứa màu trắng. H để bao tải dứa lên giá chở hàng phía trước của xe mô tô rồi đi về. Khi đi đến đoạn đường bê tông thuộc thôn Cầu Cháy, xã Vĩnh Lợi, huyện S.D thì lúc này C cũng đi xe đến đó, cả hai bị Công an huyện S.D bắt quả tang H về hành vi vận chuyển hàng cấm, C về hành vi buôn bán hàng cấm.

Tại Kết luận giám định số 74/KL-GĐKTHS ngày 29/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T.Q. Kết luận: 04 khối hộp gửi giám định là pháo nổ (pháo hoa nổ). Khối lượng 7,1 kg (bảy phảy một kilogam).

Tại Cáo trạng số 56/CT-VKSSD, ngày 06/4/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện S.D đã truy tố T.V.H về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự; Đ.V.C về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị:

- Tuyên bố: Bị cáo Đ.V.C phạm tội “Buôn bán hàng cấm”; Bị cáo T.V.H phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”;

- Về hình phạt:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Đ.V.C từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo T.V.H từ 06 tháng đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao các bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã C.T, huyện S.D, tỉnh T.Q giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 01 hộp bìa cattong được niêm phong bên ngoài bằng dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T.Q và chữ ký của bị cáo, bên trong có chứa số pháo còn lại sau giám định là 6,7 kg.

Trả lại cho bị cáo T.V.H 01 xe mô tô HONDA WAVE ALPHA màu đen bạc, biển số 22B2-571.28, kèm theo 01 chìa khóa xe; 01 đăng ký xe mô tô, 01 điện thoại IPHONE X, màu trắng bên trong có 01 sim điện thoại, 01 thẻ ATM và 1.147.000đ.

Trả cho bị cáo Đ.V.C 01 xe mô tô HONDA WAVE ALPHA màu trắng, đen, bạc biển kiểm soát 22B2-583.53, kèm theo 01 chìa khóa xe; 01 điện thoại di động Redmi K30 5G màu trắng bên trong có 01 sim điện thoại.

- Về án phí, quyền kháng cáo: Buộc các bị cáo phải chịu tiền án phí và tuyên quyền kháng cáo của các bị cáo theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, các bị cáo đều nhận thức được hành vi của mình và rất ăn năn,đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức án cho bị cáo, cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương để các bị cáo chấp hành án do hành vi của các bị cáo gây ra.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về nội dung vụ án:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất.

Ngoài lời khai nhận của các bị cáo, hành vi phạm tội của các bị cáo còn được chứng minh bằng toàn bộ những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 18 giờ ngày 24/12/2022, Đ.V.C đã giao dịch với người có tài khoản zalo “Thiên An” trên mạng xã hội zalo về việc mua 10 hộp pháo hoa giá 600.000đ/hộp, sau đó C báo giá với T.V.H là 800.000đ/hộp để hưởng số tiền chênh lệch 200.000đ/hộp và thỏa thuận giao trước 04 hộp pháo tại nhà máy xử lý nước thải gần khu tập thể công nhân nhà máy giấy An Hòa. Sau khi H nhận được 04 hộp pháo nổ (pháo hoa nổ do Thái Lan sản xuất), khối lượng 7,1kg từ người đàn ông lạ mặt, H đặt lên giá đèo hàng của xe mô tô rồi đi về. Khi đi đến đoạn đường bê tông thộc thôn Cầu cháy, xã Vĩnh Lợi thì lúc này C cũng đi xe mô tô tới. Cả hai đã bị Công an huyện S.D phát hiện lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện S.D truy tố Đ.V.C về tội “Buôn bán hàng cấm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự; T.V.H về tội “Tàng trữ hàng cấm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng hành vi phạm tội.

Về việc xem xét hành vi của các bị cáo:

Hành vi phạm tội của các bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, làm mất trật tự trị an tại địa phương, vi phạm chính sách cấm mua bán, tàng trữ, vận chuyển và đốt pháo hoa nổ của Nhà nước. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực nhận thức, biết hành vi tàng trữ, buôn bán pháo nổ là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Mặc dù bị cáo C chỉ là trung gian đứng ra môi giới để được hưởng hoa hồng và chưa nhận được tiền, nhưng hành vi của các bị cáo là cố ý, thể hiện sự coi thường pháp luật. Do vậy, cần phải có mức án tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.

Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và đường lối xử lý đối với các bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo Đ.V.C có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; Bị cáo T.V.H năm 2013 đã bị Tòa án nhân dân huyện S.D xét xử 02 năm 03 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Năm 2014 bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ bản án.

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, các bị cáo có đơn xin được cải tạo tại địa phương được UBND xã C.T xác nhận đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã được phân tích ở trên, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo C có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, bản thân bị cáo chỉ là trung gian không trực tiếp bán pháo hoa nổ và chưa được nhận tiền hoa hồng; các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, quá trình sinh sống tại địa phương luôn chấp hành tốt chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, quy định của địa phương; các bị cáo có đơn xin được cải tạo tại địa phương được UBND xã C.T xác nhận. Nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho các bị cáo được cải tạo, giáo dục tại địa phương cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Quá trình điều tra xác định bị cáo không có nghề ngH ổn định, không có tài sản có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Hội đồng xét xử xét thấy: 04 khối hộp pháo còn lại sau giám định có trọng lượng 6,7 kg được đựng trong 01 hộp bìa cattong được niêm phong bên ngoài bằng dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T.Q và chữ ký của bị cáo. Đây là vật chứng của vụ án thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 xe mô tô HONDA WAVE ALPHA màu đen bạc, biển số 22B2-571.28; 01 đăng ký xe mô tô; 01 điện thoại IPHONE X, màu trắng bên trong có 01 sim điện thoại; 01 thẻ ATM và 1.147.000đ của T.V.H.

Đối với 01 xe mô tô HONDA WAVE ALPHA màu trắng, đen, bạc biển kiểm soát 22B2-583.53; 01 điện thoại di động Redmi K30 5G màu trắng bên trong có 01 sim điện thoại của Đ.V.C.

Đây là tài sản của các bị cáo dùng làm phương tiện sinh hoạt hàng ngày nên trả lại cho các bị cáo, nhưng giữ lại để đảm bảo công tác thi hành án.

Các vấn đề khác: Đối với người đàn ông đã bán 01 hộp pháo vào khoảng tháng 12/2022 tại thôn Tam Tinh, xã Vĩnh Lợi, huyện S.D và người đàn ông đã bán 04 hộp pháo vào ngày 24/12/2022 tại thôn Cầu Cháy, xã Vĩnh Lợi, huyện S.D cho Đ.V.C và T.V.H, do không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để điều tra xử lý.

Đối với tên tài khoản zalo “Thiên An” do không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để điều tra xử lý.

Về hành vi sử dụng trái phép pháo của Đ.V.C và T.V.H, Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện S.D đã chuyển hồ sơ đến Công an huyện S.D để xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S.D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện S.D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về án phí và quyền kháng cáo bản án:

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điều 190; Điều 191; Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ: Điều 47 Bộ luật Hình sự; Các Điều 106, 136, 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;

Tuyên bố: Bị cáo Đ.V.C phạm tội “Buôn bán hàng cấm”; bị cáo T.V.H phạm tội: “Tàng trữ hàng cấm”.

1. Về hình phạt đối với các bị cáo:

- Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Đ.V.C 01 (một) năm tù, cho hưởng án treo. Thử thách 02 (hai) năm, hạn thử thách tính từ ngày tuyên án (19/5/2023).

- Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 191; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo T.V.H 07 (bảy) tháng tù, cho hưởng án treo. Thử thách 01 (một) năm 02 (hai) tháng, hạn thử thách tính từ ngày tuyên án (19/5/2023).

Giao bị cáo T.V.H, Đ.V.C cho Ủy ban nhân dân xã C.T, huyện S.D, tỉnh T.Q giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

(Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật Thi hành án hình sự).

2. Về vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 01 hộp bìa cattong được niêm phong bên ngoài bằng dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T.Q và chữ ký của người niêm phong, bên trong có chứa số pháo còn lại sau giám định là 6,7 kg.

Trả lại cho bị cáo T.V.H 01 xe mô tô HONDA WAVE ALPHA màu đen bạc, biển số 22B2-571.28, kèm theo 01 chìa khóa xe; 01 đăng ký xe mô tô; 01 điện thoại IPHONE X, màu trắng bên trong có 01 sim điện thoại số 0968.798.792; 01 thẻ ATM số 9704150136144766 mang tên T.V.H.

Trả lại cho bị cáo Đ.V.C 01 xe mô tô HONDA WAVE ALPHA màu trắng, đen, bạc biển kiểm soát 22B2-583.53, kèm theo 01 chìa khóa xe; 01 điện thoại di động Redmi K30 5G màu trắng bên trong có 01 sim điện thoại số 0333.494 913. Nhưng giữ lại để đảm bảo công tác thi hành án.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 14/4/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S.D và Chi cục Thi hành án dân sự huyện S.D)

Trả lại cho bị cáo T.V.H 1.147.000đ (một triệu một trăm bốn mươi bảy nghìn đồng). Nhưng giữ lại để đảm bảo công tác thi hành án.

(Số tiền trên hiện đang trong tài khoản số 3949.0.1064844.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện S.D mở tại Kho bạc Nhà nước huyện S.D).

3. Về án phí và quyền kháng cáo:

Các bị cáo, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Ma Quốc Thể - Trần Hữu Lượng

Hoàng Thị Minh Khánh

Cỡ chữ