vanban.org

Bản án 67/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình Tuyên án 29/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lưu Chung Ch phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Điều luật áp dụng và hình phạt: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự, thuộc trường hợp“dùng hùng khí nguy hiểm” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lưu Chung Ch 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lưu Chung Ch - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lưu Chung Ch phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUỲNH PHỤ
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67/2023/HS-ST
Ngày: 29/6/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Huy Hoàng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Diệu và bà Phạm Thị Loan

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Hạnh– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 46/2023/ TLST - HS ngày 04 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2023/QĐXXST - HS ngày 05 tháng 6 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 10A/2023/HSST - QĐ ngày 16 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:

Lưu Chung Ch; Tên gọi khác: không;

Sinh ngày 30/10/1977, tại xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình; Cư trú tại: thôn Đ, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Giới tính: nam; con ông Lưu Đình K, đã chết và con bà Đào Thị R, sinh năm 1942. Hiện sinh sống tại xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình; có vợ: Nhữ Thị Ng, sinh năm 1989. Hiện đang lao động tại Đài Loan;

Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Tháng 3/1997 nhập ngũ đến tháng 5/1999 xuất ngũ về địa phương. Quá trình sinh sống chưa bị xử lý vi phạm pháp luật.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 03/02/2023.

Bị hại: Anh Nguyễn Bá Th, sinh năm 1987

Cư trú tại: thôn Đ, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Anh Nguyễn Bá L, sinh năm 1986, cư trú tại: thôn Đ, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình

Người làm chứng:

Bà Đào Thị R, sinh năm 1942 (mẹ bị cáo Lưu Chung Ch);

Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1960 (mẹ anh Nguyễn Bá Th);

Ông Nguyễn Bá T, sinh năm 1962 (bố anh Nguyễn Bá L),

Anh Lưu Đình H, sinh năm 1975;

Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1979;

Chị Lưu Thị Bích H, sinh năm 1996;

Đều cư trú tại: thôn Đ, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình.

(Tại phiên tòa có mặt bị cáo Ch, anh Th; vắng mặt anh L và người làm chứng)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lưu Chung Ch và anh Lưu Đình H, sinh năm 1975, cư trú tại: thôn Đ, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình là anh em ruột có quan hệ họ hàng với anh Nguyễn Bá L, sinh năm 1986 và anh Nguyễn Bá Th, sinh năm 1987 ở cùng thôn. Mười năm trước anh H bị mất tài sản nghi cho L lấy nên phát sinh mâu thuẫn. Tối ngày 22/11/2022, anh Th uống bia ở nhà anh L đến 23 giờ 50 phút thì anh L rủ anh Th đến nhà anh H gọi anh H đi uống bia để làm rõ sự việc hiểu nhầm trước đó. Anh Th đồng ý. Hai anh cùng nhau đi tới cổng nhà anh H thấy cổng khóa anh L đứng ở đường gọi “Anh H ơi”. Anh H cùng vợ là chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1979, nằm nghỉ ở giường nghe có người gọi nên dậy cùng đi ra sân. H hỏi “Ai đấy”. L đáp “Em L con cậu T đây”. H hỏi “Có chuyện gì đấy”. L đáp “Em muốn nói chuyện với anh về chuyện lần trước”. H đáp “Đêm khuya rồi, có gì mai nói chuyện” rồi cùng chị T vào nhà. Nghe vậy, Th hai tay nắm lấy hai thang của cánh cổng nói “Bác gái sống thì đẹp, bác trai sống đéo ra gì”, dùng chân đạp một nhát vào cánh cổng nhà anh H và chửi “Đ/m H R”. Để đuổi anh L và anh Th đi, anh H hô “Đ/m chúng mày phá cổng nhà tao à, Ch ơi nó phá nhà anh”. Lúc này, Ch đang nằm ở phòng ngủ nhà mẹ đẻ là bà Đào Thị R, sinh năm 1942, sát cạnh nhà anh H nghe có tiếng đạp cổng và anh H hô liền vùng dậy chạy ra cổng nhà bà R nhảy qua bức tường hoa xây gạch cao 0,8 mét vào vườn nhặt 02 viên gạch vỡ (01 viên kích thước (14 x 09 x 05)cm; 01 viên kích thước (16,5 x 09 x 06)cm) ném qua bức tường bao xây gạch cao 1,6 mét ra ngoài đường, viên gạch kích thước (16,5 x 09 x 06)cm vỡ thành hai (01 viên kích thước (9,5 x 09 x 06)cm; 01 viên kích thước (07 x 09 x 06)cm), rồi hai tay bám vào mặt bờ tường bao bật ra đường. Quan sát thấy phía trước cổng nhà anh H có 02 người đàn ông sau biết là anh Nguyễn Bá L và anh Nguyễn Bá Th. Ch cúi xuống nhặt hai viên gạch vỡ cầm hai tay men theo tường rào tiến về phía cổng nhà anh H. Cách vị trí anh L đứng khoảng 03 mét, Ch chửi “Đ/m chúng mày là thằng nào mà đến đập cửa nhà tao” đồng thời ném viên gạch (kích thước (14 x 09 x 05)cm) cầm ở tay trái về phía anh L nhưng không trúng. Ch đi lại chỗ anh L, đứng đối diện, cách 70 đến 80 cm, tay phải cầm viên gạch vỡ (kích thước (9,5 x 09 x 06)cm) đập liên tiếp hai phát chếch chéo từ phải qua trái trúng vào đuôi cung mày trái anh L, dùng chân đạp 01 phát vào mạn sườn trái anh L làm anh L lùi lại ngồi xuống đất. Sau đó, Ch quay lại đi tới vị trí anh Th đứng cách đó khoảng 03 đến 04 mét, hơi chếch chéo mặt hướng về phía bên trái. Ch đứng ở phía sau cách 70 đến 80 cm, tay phải cầm viên gạch vỡ đập một phát chếch chéo từ phải sang trái trúng vào thái dương bên phải anh Th. Bị đánh, anh Th quay lại đứng đối diện nên bị Ch cầm gạch viên gạch vỡ đập tiếp phát thứ hai chếch chéo từ phải sang trái trúng gò má trái làm anh Th ngã ra đường. Anh H, chị T đứng ở cửa nhà (cách cổng 05 mét) do trời tối, cổng có tấm chắn nên khi nghe thấy tiếng Ch chửi cũng đã mở khóa cổng ra ngoài đường can ngăn. Ch ném viên gạch vỡ xuống đường rồi đi vào nhà. Anh L, anh Th bị thương tích, chảy máu vùng mặt được mọi người đưa đến Bệnh viện đa khoa huyện Quỳnh Phụ. Anh Th bị thương tích vùng đầu, gò má trái được chuyển Bệnh viện đa khoa tỉnh Thái Bình điều trị đến ngày 05/12/2022; anh L bị thương tích vùng đuôi cung mày trái điều trị tại Bệnh viện đa khoa huyện Quỳnh Phụ đến ngày 28/11/2022.

Ngay sau khi sự việc xảy ra, anh Nguyễn Bá L đã có đơn tố giác gửi Công an xã Q, huyện Q đề nghị giải quyết vụ việc theo quy định của pháp luật. Công an xã Q đã tiến hành các hoạt động kiểm tra, xác minh ban đầu, quản lý của Lưu Chung Ch 03 viên gạch vỡ (01 viên gạch vỡ kích thước (14 x 09 x 05)cm; 01 viên gạch vỡ kích thước (9,5 x 09 x 06)cm; 01 viên gạch vỡ kích thước (09 x 07 x 06)cm). Ngày 01/12/2022, Công an xã Q đã báo cáo và chuyển tài liệu, vật chứng cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳnh Phụ giải quyết theo thẩm quyền. Ngày 15/01/2023, anh Nguyễn Bá L có đơn không yêu cầu khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Lưu Chung Ch.

Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 492/22/TgT ngày 05/12/2022 và Bản kết luận giám định bổ sung pháp y về thương tích số 540/22/TgT ngày 03/01/2022 của Trung tâm pháp y Sở y tế Thái Bình kết luận thương tích của Nguyễn Bá L: “Tổn thương do vật cứng tác động làm rách da vùng đuôi cung mày trái. Đã được: khâu vết thương, kháng sinh, giảm đau, tiêm SAT. Hiện tại người bình thường. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định và giám định bổ sung là 3%”.

Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 496/22/TgT ngày 05/12/2022 của Trung tâm pháp y Sở y tế Thái Bình kết luận thương tích của Nguyễn Bá Th: “Thương tích vùng đầu, vùng gò má trái do vật cứng tác động làm rách da vùng đầu, gẫy xương cung tiếp gò má trái. Đã được phẫu thuật kết hợp xương gò má trái, khâu vết thương, thuốc kháng sinh, giảm đau. Hiện tại: thi thoảng còn đau đầu. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 13%”.

Bản cáo trạng số 51/CT - VKSQP ngày 04 - 5 -2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Ch về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự, thuộc trường hợp “dùng hùng khí nguy hiểm”quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà:

- Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung đã nêu trong bản Cáo trạng;

- Bị hại anh Nguyễn Bá Th khai phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra và phù hợp với lời khai của bị cáo; bị cáo đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường cho anh Th số tiền 30.000.000 đồng gồm chi phí cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe, thu nhập thực tế bị mất của bị hại, người chăm sóc và bù đắp tổn thất về tinh thần. Anh Th tiếp tục đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Ch và không yêu cầu đề nghị gì về mức bồi thường thiệt hại.

- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Ch về tội “Cố ý gây thương tích”. Về điều luật áp dụng và đề nghị mức xử phạt: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự, thuộc trường hợp “dùng hùng khí nguy hiểm” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Ch từ 02 năm 06 tháng tù đến 02 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 590 Bộ luật Dân sự, đề nghị ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại. Ngoài ra còn đề nghị về xử lý vật chứng và án phí theo quy định.

Trong phần tranh luận: Bị cáo, bị hại không tranh luận với nhau và với Kiểm sát viên. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳnh Phụ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người làm chứng không ai có khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

Về chứng cứ xác định có tội: Xét lời khai của bị cáo Lưu Chung Ch tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra, truy tố và phù hợp với lời khai của bị hại trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án và những người làm chứng. Hành vi của bị cáo còn được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ sau:

- Biên bản kiểm tra, xác định nơi xảy ra vụ việc, sơ đồ hiện trường do Công an xã Q, huyện Q lập hồi 00 giờ 30 phút ngày 23/11/2022 và biên bản xác định hiện trường, sơ đồ hiện trường vụ án do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳnh Phụ lập hồi 14 giờ 30 phút ngày 20/01/2023, tại thôn Đ, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình (bút lục số 41 - 54);

- Các biên bản tạm giữ đồ vật, biên bản niêm phong đồ vật bị tạm giữ do Công an xã Q, huyện Q lập hồi 10 giờ, 10 giờ 35 phút ngày 23/11/2022, tại Công an xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình (bút lục số 55 - 56); Biên bản mở niêm phong, biên bản làm việc xác định đặc điểm viên gạch, ghép các mảnh gạch vỡ do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳnh Phụ lập hồi 14 giờ 30 phút, 14 giờ 55 phút và 15 giờ ngày 17/01/2023 tại Công an huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình (bút lục số 58 - 64); Biên bản xác định trọng lượng vật chứng do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳnh Phụ lập hồi 14 giờ 50 phút ngày 10/3/2023 tại Công an huyện Quỳnh Phụ (bút lục số 73);

- Biên bản xác minh tình trạng thương tích ban đầu do Công an xã Q, huyện Q lập hồi 09 giờ 30 phút ngày 25/11/2022 tại Bệnh viện đa khoa Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình; Giấy chứng nhận thương tích ban đầu của Bệnh viện đa khoa tỉnh Thái Bình; Bệnh án điều trị của anh Nguyễn Bá Th tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Thái Bình (bút lục số 79 - 81; 84 - 103); Biên bản xác định tình trạng thương tích ban đầu do Công an xã Q, huyện Q lập hồi 10 giờ 10 phút ngày 25/11/2022 tại Bệnh viện đa khoa huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình; Giấy chứng nhận thương tích ban đầu của Bệnh viện đa khoa huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình và Bệnh án điều trị của anh Nguyễn Bá L tại Bệnh viện đa khoa huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình (bút lục số107 - 108; 110 - 119);

Như vậy có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 23 giờ 50 phút ngày 22/11/2022, tại đường phía trước cổng nhà anh Lưu Đình H, sinh năm 1975, thuộc thôn Đ, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình, Lưu Chung Ch đã có hành vi dùng viên gạch vỡ, kích thước (9,5 x 09 x 06)cm, loại hung khí nguy hiểm đập vào đầu và gò má trái anh Nguyễn Bá Th và đập vào đuôi cung mày trái anh Nguyễn Bá L. Hậu quả: anh Nguyễn Bá Th bị rách da vùng đầu, gẫy xương cung tiếp gò má trái, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 13%; anh Nguyễn Bá L bị rách da vùng đuôi cung mày trái, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 03%. Anh Nguyễn Bá L có đơn không yêu cầu khởi tố vụ án, bị can đối với Lưu Chung Ch. Hành vi nêu trên của bị cáo Lưu Chung Ch đã phạm tội “Cố ý gây thương tích”, quy định tại điểm đ khoản 2, Điều 134 Bộ luật Hình sự thuộc trường hợp “Dùng hung khí nguy hiểm” quy định tại điểm a khoản 1, Điều 134 Bộ luật Hình sự, như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh phụ là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

…

6. Người nào chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, a-xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm hoặc thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm”.

Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Hành vi bị cáo Ch dùng viên gạch vỡ, kích thước (9,5 x 09 x 06)cm, loại hung khí nguy hiểm đập vào đầu và gò má trái anh Nguyễn Bá Th và đập vào đuôi cung mày trái anh Nguyễn Bá L là nguy hiểm, đã xâm phạm đến sức khoẻ của công dân được pháp luật bảo vệ, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, làm mất trật tự, trị an tại nơi xảy ra vụ án.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Ch không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho bị hại; trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo tỏ rõ thái độ khai báo thành khẩn nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo” và “Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả” quy định tại điểm b, s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo có thời gian thực hiện nghĩa vụ quân sự, bị hại Nguyễn Bá Th xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo Ch có nhân thân tốt, chưa bị xử lý vi phạm pháp luật.

Về hình phạt Ch: Tội phạm bị cáo thực hiện thuộc loại tội phạm nghiêm trọng với mức khung hình phạt từ 02 năm đến 06 năm tù. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù có thời hạn theo Điều 38 của Bộ luật Hình sự, như đề nghị của bà Kiểm sát viên là phù hợp với hành vi phạm tội để bị cáo có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa phạm tội mới đồng thời giáo dục người dân tôn trọng pháp luật.

Đối với hành vi Lưu Chung Ch dùng viên gạch vỡ, loại hung khí nguy hiểm, đập vào đuôi cung mày trái anh Nguyễn Bá L gây thương tích với tỷ lệ là 03%, do anh L có đơn không yêu cầu khởi tố vụ án, bị can nên Công an huyện Quỳnh Phụ đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành Ch đối với hành vi nêu trên của bị cáo Ch là đúng pháp luật. Anh Lưu Đình H thấy anh Nguyễn Bá L và Nguyễn Bá Th nửa đêm tới chửi và đạp cổng nhà mình đã hô, gọi bị cáo Lưu Chung Ch ra mục đích để đuổi anh L và anh Th về. Quá trình điều tra, thẩm vấn tại phiên tòa xác định thời điểm bị cáo Ch đánh anh Th, anh L thì anh H cùng vợ là chị Nguyễn Thị T ở cửa nhà nên không biết chỉ đến khi nghe tiếng bị cáo Ch chửi ngoài đường cũng đã mở khóa cổng ra để can ngăn; giữa anh H và bị cáo Ch không có sự bàn bạc thống nhất từ trước. Do đó, không đủ căn cứ kết luận anh H đồng phạm với bị cáo Ch.

Về bồi thường trách nhiệm dân sự: Bị cáo Lưu Chung Ch đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường chi phí cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe, thu nhập thực tế bị mất của bị hại, người chăm sóc và bù đắp tổn thất về tinh thần cho anh Nguyễn Bá Th số tiền 30.000.000 đồng và anh Nguyễn Bá L số tiền 13.000.000 đồng. Các anh Th và Long đã nhận đủ số tiền trên, không yêu cầu đề nghị gì đối với bị cáo nên cần chấp nhận là phù hợp với quy định tại Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 590 Bộ luật Dân sự.

Vật chứng của vụ án: 01 viên gạch vỡ kích thước (14 x 09 x 05)cm; 01 viên gạch vỡ kích thước (9,5 x 09 x 06)cm; 01 viên gạch vỡ kích thước (09 x 07 x 06)cm là công cụ bị cáo sử dụng để phạm tội nên áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu để tiêu hủy:

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định;

Về quyền kháng cáo: Bị cáo Lưu Chung Ch, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lưu Chung Ch phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

2. Điều luật áp dụng và hình phạt: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự, thuộc trường hợp“dùng hùng khí nguy hiểm” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lưu Chung Ch 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án;

3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 590 của Bộ luật Dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa bị cáo Ch với anh Th và anh L cụ thể: Bị cáo Lưu Chung Ch đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường chi phí cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe, thu nhập thực tế bị mất của bị hại, người chăm sóc và bù đắp tổn thất về tinh thần cho anh Nguyễn Bá Th số tiền 30.000.000 đồng và anh Nguyễn Bá L số tiền 13.000.000 đồng. Bị cáo đã bồi thường xong.

4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy 01 viên gạch vỡ kích thước (14 x 09 x 05)cm; 01 viên gạch vỡ kích thước (9,5 x 09 x 06)cm; 01 viên gạch vỡ kích thước (09 x 07 x 06)cm;

(Vật chứng trên đang được Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 56 ngày 05/5/2023 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình).

5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố Tụng hình sự; Điều 21, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Ch phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 332; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự ;bị cáo Ch, anh Th có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 29/6/2023). Anh Nguyễn Bá L vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ bản án./.

Cỡ chữ