- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn K - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 67/2023/HS-ST Ngày: 30/3/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Quỳnh
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Triệu Đức Tươi
2. Bà Trần Thanh Vân.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Nam Thái - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Cảnh Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm, thụ lý số 47/2023/TLST-HS ngày 01 tháng 3 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Văn K - Sinh năm 1990 tại Thái Nguyên. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm T, xã L, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên. Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 07/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông: Trần Minh Ch (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị Th; Vợ: Phạm Thị Ph, sinh năm 1991; Có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2014.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/01/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trạm tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt)
* Người chứng kiến:
Anh Hoàng Văn H, sinh năm 1985. (Vắng mặt)
Trú tại: Xóm HV, xã L, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 18 giờ 30 phút ngày 05/01/2023, tổ công tác Công an xã Linh Sơn, thành phố Thái Nguyên làm nhiệm vụ tại đường quốc lộ 17, thuộc khu vực xóm K, xã L, thành phố TN phát hiện một nam thanh niên đang đi bộ có biểu hiện liên quan đến ma tuý, tổ công tác yêu cầu nam thanh niên dừng lại kiểm tra và mời người chứng kiến, qua kiểm tra nam thanh niên khai tên Trần Văn K, K tự giác lấy trong lòng bàn tay phải ra giao nộp cho tổ công tác 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng, K khai là ma tuý Heroine K mua của một người đàn ông không quen biết ở khu vực Bưu điện xã L, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên với giá 200.000 đồng, mục đích sử dụng cho bản thân, kiểm tra người K không phát hiện thu giữ gì thêm. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng theo quy định.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng: Số chất bột màu trắng thu giữ của Trần Văn K có khối lượng 0,337 gam, lấy toàn bộ số bột màu trắng trên đưa vào bì niêm phong ký hiệu (K) gửi giám định.
Tại Kết luận giám định số 223/KL-KTHS ngày 13/01/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu (K) gửi giám định là chất ma tuý, loại Heroine. Khối lượng thu giữ ban đầu là 0,337 gam.
Tại Cơ quan điều tra, Trần Văn K khai nhận: Khoảng 18 giờ 20 phút ngày 05/01/2023, K đi nhờ xe mô tô một người qua đường từ ngõ nhà riêng tại xóm T, xã L, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên đến khu vực ngã ba bưu điện xã L, thành phố TN để tìm mua ma tuý sử dụng. Tại đây K gặp một người đàn ông không quen biết mua được 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong có chứa ma tuý Heroine với giá 200.000 đồng, rồi cất gói ma tuý Heroine trong lòng bàn tay phải sau đó K đi đến đường quốc lộ 17, thuộc xóm K, xã L, thành phố TN để tìm nơi sử dụng ma tuý, thì bị tổ công tác Công an xã Linh Sơn, thành phố Thái Nguyên phát hiện bắt quả tang thu giữ vật chứng như trên.
Lời khai nhận của Trần Văn K phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án .
Vật chứng của vụ án:
- 01 phong bì niêm phong ký hiệu (K) bên trong chứa 0,326 gam ma tuý và vỏ bao gói mẫu, mặt sau có chữ ký của Nguyễn Thành Trung, Lê Tuấn Anh và các dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên.
- 01 phong bì niêm phong ký hiệu (L) bên trong chứa bì niêm phong ban đầu, mặt sau có chữ ký của Vũ Quang Huy, Hoàng Thị Diệu Ngọc, Hoàng Văn Hồng, Hoàng Ngọc Nhất, Trần Văn K và 03 dấu của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên.
Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên chờ xử lý.
Tại bản cáo trạng số 49/CT-VKSTPTN, ngày 27/02/2023 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Trần Văn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.
Phần luận tội tại phiên tòa hôm nay, sau khi phân tích, đánh giá tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 24 tháng đến 30 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: Chất ma túy và vỏ bao gói mẫu được đựng trong phong bì niêm phong ký hiệu K, L.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Bị cáo không tranh luận gì, chỉ xin Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án thấp nhất để bị cáo sớm trở về gia đình, xã hội trong lời nói sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Quá trình khởi tố vụ án, điều tra, truy tố và xét xử, điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng thực hiện trong vụ án đảm bảo hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.
. Căn cứ lời khai của bị cáo tại phiên tòa, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Hồi 18 giờ 30 phút ngày 05/01/2023, tại khu vực đường quốc lộ 17, thuộc khu vực xóm K, xã L, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên, Trần Văn K có hành vi tàng trữ trái phép 0,337 gam Heroine, mục đích sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Công an xã Linh Sơn, thành phố Thái Nguyên phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng.
Với hành vi nêu trên, bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Trần Văn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Nội dung điều luật quy định như sau:
"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...
c. Heroine...có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
. Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng. Bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi và năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng các chất ma túy, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy cần phải được xử lý bằng pháp luật hình sự, buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời răn đe, phòng chống tội phạm chung.
. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:
Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận. Bị cáo không có tài sản gì, không có thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
. Vật chứng vụ án:
Số ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu được niêm phong kí hiệu K, L không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Về nguồn gốc số Heroine bị thu giữ Trần Văn K khai mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực ngã ba bưu điện xóm K, xã L, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên. Quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên không có cơ sở làm rõ để xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Về hình phạt:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Văn K 24 (hai mươi tư) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/01/2023.
- Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự, quyết định tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
- Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
2. Vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy:
- 01 bì niêm phong ký hiệu K, bên trong chứa 0,326gam ma túy và vỏ bao gói mẫu, mặt sau có chữ ký của Nguyễn Thành Trung, Lê Tuấn Anh và các dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên.
- 01 bì niêm phong ký hiệu L, bên trong chứa bì niêm phong ban đầu, mặt sau có chữ ký của Vũ Quang Huy, Hoàng Thị Diệu Ngọc, Hoàng Văn Hồng, Hoàng Ngọc Nhất, Trần Văn K và 03 dấu của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/3/2023 giữa Công an thành phố Thái Nguyên với Chi cục THADS thành phố Thái Nguyên).
3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016: Buộc bị cáo Trần Văn K phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh TN; Sở tư pháp; - VKSND tỉnh TN; VKSND TPTN; - Công an TPTN; - Trại tạm giam CA tỉnh TN; - Chi cục THADS TPTN; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Thúy Quỳnh |