vanban.org

Bản án 67/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Về hôn nhân: Chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị Võ Vi L đối với anh Vương Tấn T.

Chị Võ Vi L được ly hôn với anh Vương Tấn T; chị L và anh T không còn quyền và nghĩa vụ của vợ chồng. [2] Về con chung: Có 01 con chung tên Vương Tấn L1, sinh ngày 08/11/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "L-T"
  • Tòa quyết gì? [1] Về hôn nhân: Chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị Võ Vi L đối với anh Vương Tấn T.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TÂY NINH
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 27-9-2023.
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM.

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH, TỈNH TÂY NINH.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Lan.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Tấn Phát;

2. Bà Đặng Thị Phương Thảo;

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hoài Thanh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 278/2023/TLST-HNGĐ ngày 27/7/2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 07/9/2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Võ Vi L, sinh năm 1993; Địa chỉ: Số H, đường NT, phường NCT, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh; có đơn xin vắng mặt.

Bị đơn: Anh Vương Tấn T, sinh năm 1993; Địa chỉ: Tổ 4, ấp BL, xã BM, thành phố TN, tỉnh Tây Ninh; có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, chị Võ Vi L trình bày:

Chị Võ Vi L và anh Vương Tấn T qua thời gian tìm hiểu nhau khoảng 01 năm thì tiến tới hôn nhân, chung sống vợ chồng với nhau từ đầu năm 2021, đến tháng 4/2021 thì đăng ký kết hôn tại UBND phường Phú Trung, Quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh. Vợ chồng chung sống hạnh phúc khoảng 6 tháng thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra cãi vã. Anh T thường xuyên đi chơi với bạn bè, không quan tâm, chăm sóc cho vợ con. Vợ chồng anh chị đã sống ly thân 01 năm. Nhận thấy không thể sống chung được nữa, nên chị L yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh T.

Con chung: Có 01 con chung tên Vương Tấn L1, sinh ngày 08/11/2021. Chị L yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung, nợ chung: Chị trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo lời khai của bị đơn- anh Vương Tấn T trình bày:

Anh T thống nhất lời trình bày của chị L, anh đồng ý ly hôn với chị L và đồng ý giao con cho chị L nuôi dưỡng. Tài sản chung, nợ chung: Anh trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành ph Tây Ninh phát biểu ý kiến:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng và đầy đủ các trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự;

Về chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các điều 51; 56; 58; 81; 82; 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, nộp và quản lý sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Đề nghị Hội đồng xét xử cho chị Võ Vi L được ly hôn với anh Vương Tấn T; về con chung: Đề nghị giao con cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng; về tài sản chung; Nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị L phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến trình bày của đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về tố tụng: Chị Võ Vi L và anh Vương Tấn T có đơn yêu cầu tòa án giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị L, anh T.

Về nội dung vụ án:

Xét về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Vi L và anh Vương Tấn T qua thời gian tìm hiểu nhau khoảng 01 năm thì tiến tới hôn nhân, chung sống vợ chồng với nhau từ đầu năm 2021, đến tháng 4/2021 thì đăng ký kết hôn tại UBND phường Phú Trung, Quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh. Quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Xét về mâu thuẫn: Quá trình giải quyết vụ án, chị L trình bày vợ chồng chung sống hạnh phúc khoảng 6 tháng thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra cãi vã. Anh T thường xuyên đi chơi với bạn bè, không quan tâm, chăm sóc cho vợ con. Vợ chồng anh chị đã sống ly thân 01 năm. Nhận thấy không thể sống chung được nữa, nên chị L yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh T.

Anh T xác định vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn. Do vậy, chị L xin ly hôn, anh đồng ý ly hôn với chị L.

Xét chị L và anh T đều trình bày thống nhất giữa anh chị có phát sinh mâu thuẫn, không còn tình cảm với nhau, không còn khả năng đoàn tụ. Đồng thời, cả hai đều có mong muốn được giải quyết ly hôn. Do đó, xác định hôn nhân của anh chị mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên xét xử cho anh chị được ly hôn

Về con chung: Có 01 con chung tên Vương Tấn L1, sinh ngày 08/11/2021. Chị L yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Anh T cũng thống nhất giao con cho chị L nuôi dưỡng nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị L, anh T đều thống nhất không có và không yêu cầu giải quyết.

Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát: Xét thấy đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với tình tiết, nội dung vụ án nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Chị Võ Vi L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 51; 56; 58; 81; 82; 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điểm a, Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, nộp và quản lý sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

[1] Về hôn nhân: Chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị Võ Vi L đối với anh Vương Tấn T.

Chị Võ Vi L được ly hôn với anh Vương Tấn T; chị L và anh T không còn quyền và nghĩa vụ của vợ chồng.

[2] Về con chung: Có 01 con chung tên Vương Tấn L1, sinh ngày 08/11/2021.

Giao cháu Vương Tấn L1 cho chị L tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng. Ghi nhận chị L không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn anh Vương Tấn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

[3] Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[4] Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5] Về án phí: Chị Võ Vi L phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí chị L đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0002377 ngày 27/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. Ghi nhận chị L đã nộp đủ.

[6] Các bên đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương nơi có trụ sở.

[7] Trường hợp, bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ