- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thuý H và Phan Thanh Đ"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thuý H.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 67/2023/HNGĐ-ST Ngày: 22-8-2023 V/v ly hôn và tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đặng Duy Tân.
Ông Lê Hoàng Điệt.
- Thư ký phiên Tòa: Ông Đoàn Minh Tiến là Thư ký Tòa án nhân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú tham gia phiên tòa: Bà Triệu Thị Mộng Lý– Kiểm sát viên.
Trong ngày 22 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 74/2023/TLST-HNGĐ, ngày 24 tháng 5 năm 2023 về ly hôn và tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 117/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thúy H, sinh năm: 1994;
Địa chỉ: ấp P, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; Chỗ ở hiện nay: Số 4Ô2/18 khu phố Hải Trung, thị trấn Phước Hải, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu (vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Phan Thanh Đ; Địa chỉ: ấp P, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 20 tháng 02 năm 2023 cũng như trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lý Thuý Hồng trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thúy H và anh Phan Thanh Đ tổ chức tiệc cưới vào năm 2016 và đi đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Mỹ Phước, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng vào ngày 13 tháng 6 năm 2016. Chị Lê Thuý H và anh Phan Thanh Đ tìm hiểu nhau một thời gian thì đi đến hôn nhân, hôn nhân của chị Hồng, anh Đấu được xây dựng trên cơ sở tự nguyện, không ai ép buộc. Sau khi tổ chức lễ cưới, chị Lê Thuý H và anh Phan Thanh Đ chung sống tại ấp P, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Thời gian đầu vợ chồng chị Lê Thuý H và anh Phan Thanh Đ chung sống với nhau hạnh phúc. Nhưng đến giữa năm 2020 thì chị Lê Thuý H và anh Phan Thanh Đ phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống, trong đời sống hôn nhân thường xuyên cãi vã. Mặc dù, khi xảy ra mâu thuẫn chị Lê Thuý H và anh Phan Thanh Đ đã nhiều lần hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng đều không được nên chị Hồng và anh Đấu đã sống ly thân từ ngày 30-11-2020 cho đến nay. Do đó, chị Lê Thuý H nhận thấy hiện nay trong đời sống hôn nhân giữa chị và anh Phan Thanh Đ phát sinh nhiều mâu thuẫn, không hàn gắn được, đời sống hôn nhân không hạnh phúc nên chị Lê Thuý H yêu cầu được ly hôn với anh Phan Thanh Đ.
Về con chung: Chị Lê Thuý H tự khai trong thời gian chung sống, chị chị Hồng và anh Phan Thanh Đ có 01 (một) người con chung là Phan Lê Bảo Hân (nữ, sinh ngày 29-10-2018), hiện nay cháu Hân đang sống với chị Hồng tại số 4Ô2/18 khu phố Hải Trung, thị trấn Phước Hải, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Sau khi ly hôn chị Hồng yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phan Lê Bảo Hân (nữ, sinh ngày 29-10-2018) cho đến khi cháu Hân đủ 18 (mười tám) tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Lê Thuý H không yêu cầu anh Phan Thanh Đ cấp dưỡng nuôi cháu Phan Lê Bảo Hân (nữ, sinh ngày 29-10-2018).
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Lê Thuý H tự khai không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Đối với bị đơn anh Phan Thanh Đ: Sau khi thụ lý, Tòa án đã tóm tắt nội dung đơn khởi kiện và các yêu cầu của nguyên đơn chị Lê Thuý H tại Thông báo thụ lý vụ án số: 170/TB-TLVA, ngày 24 tháng 5 năm 2023 và đã tống đạt hợp lệ cho bị đơn anh Phan Thanh Đ, cũng như đã triệu tập hợp lệ anh Đấu đến dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải hai lần nhưng anh Đấu đều không đến dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Sau đó Tòa án đã Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho anh Đấu nhưng anh Đấu không gửi văn bản ghi ý kiến của anh Đấu đối với yêu cầu khởi kiện nêu trên của chị Lê Thuý H.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng trình bày ý kiến như sau:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự như: Xác định đúng thẩm quyền thụ lý vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự, việc thu thập chứng cứ đúng theo quy định. Về thời hạn chuẩn bị xét xử được đảm bảo theo quy định. Về thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, việc cấp tống đạt đảm bảo đúng theo quy định. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm.
Về nội dung vụ án: Đối với yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thuý H, về việc chị Hồng yêu cầu ly hôn với anh Đấu và chị Hồng yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Phan Lê Bảo Hân (nữ, sinh ngày 29-10-2018) cho đến khi cháu Hân đủ 18 (mười tám) tuổi và không yêu cầu anh Đấu cấp dưỡng nuôi con. Còn về tài sản chung, nợ chung chị Hồng tự khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thuý H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia tố tụng:
Nguyên đơn chị Lê Thuý H vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt); Bị đơn anh Phan Thanh Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng cả hai lần đều vắng mặt không lý do. Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1,3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.
Về thủ tục thụ lý việc khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thuý H: Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng nhận được đơn yêu cầu khởi kiện cùng tài liệu, chứng cứ kèm theo do nguyên đơn chị Lê Thuý H nộp trực tiếp tại Tòa án. Ngay sau khi nhận được đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo, Tòa án thực hiện thủ tục nhận, xử lý đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thuý H và thụ lý vụ án đúng quy định tại Điều 191 và Điều 195 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Lê Thuý H yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa nguyên đơn chị Lê Thuý H và bị đơn anh Phan Thanh Đ, có nơi cư trú tại ấp P, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử xác định việc Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng thụ lý, giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm là đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết vụ án.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thuý H và anh Phan Thanh Đ xác lập quan hệ vợ chồng trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và có đủ điều kiện kết hôn. Do đó việc chị Lê Thuý H và anh Phan Thanh Đ tiến đến hôn nhân và được Ủy ban nhân dân xã Mỹ Phước, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 13 tháng 6 năm 2016 là hoàn toàn đúng theo đúng quy định pháp luật cho nên được pháp luật công nhận đây là hôn nhân hợp pháp và cần giải quyết hậu quả phát sinh từ cuộc hôn nhân này.
Trong quá trình chung sống theo chị Hồng trình bày do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã và không tìm được tiếng nói chung trong đời sống hôn nhân, anh Đấu không quan tâm chăm sóc cho gia đình. Chị Hồng và anh Đấu đã sống ly thân từ tháng 11 năm 2020 đến nay, khi xảy ra mâu thuẫn chị Hồng đã nhiều lần hàn gắn tình cảm vợ chồng, cũng như muốn cho cháu Hân có được một gia đình có đủ cả cha lẫn mẹ nhưng không được và vợ chồng tiếp tục xảy ra mâu thuẫn. Hiện nay chị Hồng và anh Đấu không còn chung sống với nhau như vợ chồng, anh chị đều có công việc riêng và có cuộc sống riêng không ai quan tâm, chăm sóc cho ai. Theo đơn khởi kiện cũng như trong quá trình giải quyết vụ án chị Hồng vẫn cương quyết xin ly hôn với anh Phan Thanh Đ.
Hội đồng xét xử xét thấy theo quy định tại khoản 1 Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 “vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thuỷ, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Đối chiếu với quan hệ hôn nhân giữa chị Hồng, anh Đấu thì hiện nay, chị Hồng, anh Đấu sống ly thân, mỗi người đều có cuộc sống riêng, không ai quam tâm chăm sóc cho ai. Do đó, Hội đồng xét xử thấy rằng thực trạng mâu thuẫn giữa chị Hồng, anh Đấu đã đến mức trầm trọng, hiện nay anh chị không còn sống chung với nhau như vợ chồng, anh chị không còn thương yêu và chăm sóc lẫn nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Lê Thuý H và anh Phan Thanh Đ.
[2.2] Về con chung: Xét yêu cầu của chị Lê Thuý H được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Phan Lê Bảo Hân (nữ, sinh ngày 29-10-2018) cho đến khi cháu Hân đủ 18 (mười tám) tuổi. Hội đồng xét xử thấy, khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quy định: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Thấy rằng, từ khi chị Hồng và anh Đấu sống ly thân thì chị Hồng là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Hân, về mặt tâm sinh lý phát triển bình thường.
Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử thấy rằng nhằm để đảm bảo sự phát triển lành mạnh về thể chất, ổn định cuộc sống cũng như tâm sinh lý của cháu Phan Lê Bảo Hân nên việc giao cháu Hân cho chị Hồng trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Do đó, căn cứ vào các Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử tiếp tục giao cháu Phan Lê Bảo Hân cho chị Hồng tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Hân đủ 18 (mười tám) tuổi. Anh Phan Thanh Đ được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh Đấu thực hiện quyền này, theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng nuôi con: Khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con”. Đáng lẽ ra, anh Đấu là người không trực tiếp nuôi con thì phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, nhưng trong quá trình giải quyết vụ án chị Hồng trình bày, hiện tại chị Hồng có việc làm ổn định, đảm bảo để nuôi cháu Lê Bảo Hân nên chị Hồng không yêu cầu anh Đấu cấp dưỡng nuôi con. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung: Chị Lê Thuý H tự khai không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.
Về nợ chung: Chị Lê Thuý H tự khai không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên như đã nhận định nêu trên là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Nguyên đơn chị Lê Thuý H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1,3 Điều 228; Điều 266; Điều 271; Điều 273; Điều 278; Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thuý H.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thuý H được ly hôn với anh Phan Thanh Đ.
2. Về con chung:
2.1 Giao con chung tên Phan Lê Bảo Hân (nữ, sinh ngày 29-10-2018) cho chị Lê Thuý H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Phan Lê Bảo Hân (nữ, sinh ngày 29-10-2018) đủ 18 (mười tám) tuổi.
2.2 Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Phan Thanh Đ không cấp dưỡng nuôi cháu Phan Lê Bảo Hân (nữ, sinh ngày 29-10-2018).
2.3 Sau khi ly hôn, anh Phan Thanh Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung tên Phan Lê Bảo Hân (nữ, sinh ngày 29-10-2018), chị Lê Thuý H cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở. Anh Phan Thanh Đ không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
3. Về tài sản chung: Chị Lê Thuý H tự khai không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
4. Về nợ chung: Chị Lê Thuý H tự khai không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn chị Lê Thuý H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009240 ngày 22 tháng 5 năm 2023, chị Lê Thuý H đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
5. Nguyên đơn; bị đơn có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung), thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng; - Chi cục THADS huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng; - TAND tỉnh Sóc Trăng (Phòng KTNV&THA); - UBND xã Mỹ Phước, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng; - Lưu hồ sơ vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thu Hồng |