- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 842/2022/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn”"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Nguyễn Thị L.
- Căn cứ chính? Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 67/2023/HNGĐ-ST Ngày: 29-5-2023 V/v: “Tranh chấp ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Quyền
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Ngẫu
Bà Trần Thị Hồng Phượng
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thùy Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Thành.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành: Bà Lê Thị Hồng Hà – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 842/2022/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 4 năm 2023, Quyết định hoãn phiên toà số 91/2023/QĐST-HNGĐ ngày 08/5/2023, giữa:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1989
Địa chỉ: tổ 2, ấp 2, xã A, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Ông Trương Quốc V, sinh năm 1982
Địa chỉ: 270, tổ 12, khu 14, ấp Thanh Bình, xã L1, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.
(Đương sự vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Tôi và ông Trương Quốc V tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã L1, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai theo Giấy chứng nhận kết hôn số 01/2011 ngày 17/02/2011.
Trong quá trình chung sống chúng tôi thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung, thường xuyên cải vã nhau. Chúng tôi đã sống ly thân.
Nay tôi nhận thấy tình trạng hôn nhân lâm vào bế tắc, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, vợ chồng đã sống ly thân. Nay tôi không còn tình cảm với ông V, nên tôi yêu cầu Toà án giải quyết cho tôi ly hôn với ông Trương Quốc V.
Về con chung: Tôi và ông V có 01 con chung là Trương Gia H - sinh ngày 08/9/2011. Từ khi tôi và ông V sống ly thân tôi là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Ly hôn tôi yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
- Bị đơn ông Trương Quốc V đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án; được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần đến làm việc, tham gia phiên họp công khai chứng cứ, phiên hòa giải, phiên tòa nhưng ông V đều vắng mặt nên không có lời khai.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L.
+ Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị L được ly hôn với ông Trương Quốc V.
+ Về con chung: Giao con chung Trương Gia H - sinh ngày 08/9/2011 cho bà Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi dưỡng.
Tạm thời ông Trương Quốc V không phải cấp dưỡng nuôi con..
+ Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét, giải quyết.
+ Về án phí: Bà L phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị L có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn ông Trương Quốc V đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà L và ông V.
Về quan hệ pháp luật: Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp ly hôn” quy định tại Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị L và ông Trương Quốc V tự nguyện đăng ký kết hôn, được UBND xã L1, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 01/2011 ngày 17/02/2011. Căn cứ Điều 9, Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, xác định hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị L và ông Trương Quốc V là hôn nhân hợp pháp.
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị L khởi kiện yêu cầu ly hôn với lý do tình trạng hôn nhân giữa bà và ông V là trầm trọng, xảy ra rất nhiều mâu thuẫn trong hôn nhân. Bà L xác định không còn tình cảm với ông V và yêu cầu xin ly hôn với ông V.
Tòa án đã xác minh tại địa phương (xã L1, huyện Long Thành) về tình trạng hôn nhân của bà L và ông V, kết quả như sau: Về mâu thuẫn vợ chồng bà L, ông V thì địa phương không rõ. Tuy nhiên, từ tháng 7/2018 bà L, ông V đã sống ly thân.
Bị đơn ông Trương Quốc V đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án và được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần đến làm việc, tham gia phiên họp công khai chứng cứ, phiên hòa giải, phiên tòa nhưng ông V đều vắng mặt, cũng không có ý kiến phản hồi về các nội dung theo đơn khởi kiện của nguyên đơn. Điều này cho thấy ông V không còn quan tâm đến mối quan hệ hôn nhân với bà L nữa, không có thiện chí hòa giải để vợ chồng hàn gắn, đoàn tụ với nhau. Do ông V không đến tham gia tố tụng tại Tòa án, không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; căn cứ khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án giải quyết vụ án theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Theo tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án xác định tình trạng hôn nhân giữa bà L và ông V là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L về việc xin ly hôn với ông Trương Quốc V.
Về con chung: Bà L và ông V có 01 con chung là Trương Gia H - sinh ngày 08/9/2011. Theo lời khai của bà L và xác nhận của chính quyền địa phương thì hiện nay bà L đang trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Con chung Trương Gia H có nguyện vọng được sống với bà L.
Ông Trương Quốc V không đến Tòa án tham gia tố tụng; không có ý kiến, yêu cầu gì về con chung; từ đó cho thấy ông V không có thiện chí hòa giải về vấn đề chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, không có nguyện vọng nuôi con chung. Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy tiếp tục giao con chung cho bà L nuôi dưỡng là phù hợp quy định của pháp luật.
Về tài sản chung: Bà L xác định không có tài sản chung. Mặt khác do chưa có lời khai của ông Trương Quốc V, nên không xem xét, giải quyết.
Về nợ chung: Bà L xác định không có nợ chung. Mặt khác do chưa có lời khai của ông Trương Quốc V, nên không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Bà Nguyễn Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp hôn nhân gia đình theo quy định.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 91, 147, 238, 266, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 9, Điều 11 của Luật hôn nhân gia đình năm 2000; các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Nguyễn Thị L.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị L được ly hôn với ông Trương Quốc V.
2. Về con chung: Giao con chung Trương Gia H - sinh ngày 08/9/2011 cho bà Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi dưỡng.
Ông Trương Quốc V có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở.
Tạm thời ông Trương Quốc V không phải cấp dưỡng nuôi con.
Vì quyền lợi của con chung chưa thành niên, các bên được quyền thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét, giải quyết.
4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị L phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp hôn nhân gia đình. Số tiền 300.000đ tạm ứng án phí bà L đã nộp, theo Biên lai thu số 0006343 ngày 25/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Thành được trừ vào tiền án phí bà L phải chịu. Bà L đã nộp xong.
5. Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND huyện Long Thành; - Chi cục THADS huyện Long Thành; - UBND xã, phường nơi đăng ký kết hôn; - Lưu. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Hội thẩm nhân dân Nguyễn Văn Ngẫu Trần Thị Hồng Phượng | Phạm Ngọc Quyền Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phạm Ngọc Quyền |