vanban.org

Bản án 67/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị P đối với bị đơn ông Lê Văn C, cụ thể tuyên:

Về quan hệ hôn nhân: bà Nguyễn Thị P được ly hôn với ông Lê Văn C. Về con chung: giao cháu Lê Nguyễn Q, sinh ngày 04/01/2016 cho bà Nguyễn Thị P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên. Ghi nhận việc bà P không yêu cầu ông Lê Văn C cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "“Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” Nguyễn Thị P-Lê Văn C"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị P đối với bị đơn ông Lê Văn C, cụ thể tuyên:
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GIỒNG TRÔM
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 29/5/2023
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM – TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Nguyễn Yến Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Lem

2. Ông Đỗ Thanh Tuyến

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Thành Trung

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Thắm – Kiểm sát viên

Ngày 29/5/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 119/2023/TLST-HNGĐ, ngày 27/3/2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 111/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 27/4/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 77/2023/QĐST-HNGĐ ngày 12/5/2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1978

Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện G, tỉnh Bến Tre

Địa chỉ liên hệ: ấp C, xã P, huyện G, tỉnh Bến Tre

- Bị đơn: ông Lê Văn C, sinh năm 1977

Địa chỉ: số 497, ấp P, xã P, huyện G, tỉnh Bến Tre

(bà P có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt; ông C vắng mặt tại phiên tòa không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nguyên đơn bà Nguyễn Thị P trình bày:

Bà P và ông Lê Văn C kết hôn vào năm 2016, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện G, tỉnh Bến Tre vào ngày 23/02/2016. Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến khoảng đầu năm 2021 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng về quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cự cãi dẫn đến mâu thuẫn ngày càng gay gắt, tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn hạnh phúc gia đình cho đến nay.

Nay bà P xác định không còn tình cảm với ông C nữa, bà yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:

- Về hôn nhân: bà P yêu cầu được ly hôn với ông C.

- Về con chung: bà P và ông C có 1 con chung: Lê Nguyễn Q, sinh ngày 04/01/2016. Bà P yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: bà P khai không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: bà P khai không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do bận công việc nên bà P có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt bà.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Bến Tre đã nhiều lần triệu tập hợp lệ ông Lê Văn C đến để tiến hành hòa giải nhưng ông C vẫn vắng mặt không có lý do nên không thể tiến hành hòa giải được. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện G mở phiên tòa sơ thẩm xét xử công khai vụ án để Hội đồng xét xử xem xét quyết định.

Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay,

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị P có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện như ban đầu.

Bị đơn ông Lê Văn C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Riêng bị đơn ông Lê Văn C đã không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình.

Về nội dung: đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị P.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào lời trình bày của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị P và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G; Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

- Bà Nguyễn Thị P khởi kiện yêu cầu Tòa án xem xét cho bà được ly hôn với ông Lê Văn C và được trực tiếp nuôi con chung chưa thành niên. Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật trong vụ án này là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

- Bị đơn ông Lê Văn C có địa chỉ cư trú tại ấp P, xã P, huyện G, tỉnh Bến Tre. Do đó, căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện G thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm là đúng thẩm quyền.

- Bà Nguyễn Thị P có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Vì vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà P.

- Bị đơn ông Lê Văn C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông C.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: bà Nguyễn Thị P và ông Lê Văn C kết hôn vào năm 2016, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện G, tỉnh Bến Tre vào ngày 23/02/2016. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Trong quá trình chung sống, bà P cho rằng bà và ông C bất đồng về quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cự cãi dẫn đến mâu thuẫn ngày càng gay gắt, tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn hạnh phúc gia đình cho đến nay. Bà P đã cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng không thành; nay bà xác định không còn tình cảm với ông C nữa nên xin được ly hôn. Về phía ông C, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ ông C tham gia phiên hòa giải nhằm tạo điều kiện cho các bên hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng ông C đã không đến Tòa án và cũng không có gửi văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của bà P. Qua đó, cho thấy tình cảm vợ chồng đã thực sự không còn; ông C có thái độ bỏ mặc, không hề có ý mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng với bà P.

Từ những phân tích trên xét thấy, mâu thuẫn giữa bà Nguyễn Thị P và ông Lê Văn C đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài vì cả hai bên đều không ai mong muốn đoàn tụ, mục đích hôn nhân vì thế không đạt được nên ly hôn là biện pháp tốt nhất cho cả hai.

Về con chung: bà Nguyễn Thị P và ông Lê Văn C 1 con chung: Lê Nguyễn Q, sinh ngày 04/01/2016. Bà P yêu cầu sau khi ly hôn bà được trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy, cháu Lê Nguyễn Q hiện đang sống với mẹ và có cuộc sống, học tập, sinh hoạt ổn định. Việc sống chung với mẹ là phù hợp với ý kiến, nguyện vọng của cháu Q. Ngoài ra, phía ông C cũng không có ý kiến gì về vấn đề con chung. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận để bà P là người trực tiếp nuôi cháu Q cho đến khi thành niên. Xét việc bà P không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con là hoàn toàn tự nguyện nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về tài sản chung: bà Nguyễn Thị P khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: bà Nguyễn Thị P khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí: án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, bà Nguyễn Thị P phải chịu theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 147, 227, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

Áp dụng Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị P đối với bị đơn ông Lê Văn C, cụ thể tuyên:

- Về quan hệ hôn nhân: bà Nguyễn Thị P được ly hôn với ông Lê Văn C.

- Về con chung: giao cháu Lê Nguyễn Q, sinh ngày 04/01/2016 cho bà Nguyễn Thị P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên. Ghi nhận việc bà P không yêu cầu ông Lê Văn C cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, ông C được quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích về mọi mặt của con chung, khi cần thiết các bên đương sự được quyền yêu cầu Tòa án xem xét thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như quyết định việc cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: bà Nguyễn Thị P khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về nợ chung: bà Nguyễn Thị P khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

2. Về án phí: án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng bà Nguyễn Thị P phải chịu, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0003243 ngày 27/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện G, tỉnh Bến Tre. Bà P đã nộp xong tiền án phí.

3. Về quyền kháng cáo: bà Nguyễn Thị P và ông Lê Văn C vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ