vanban.org

Bản án 67/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Ngọc Y đối với anh Nguyễn Thành L.

Về hôn nhân: Chị Lê Thị Ngọc Y được ly hôn với anh Nguyễn Thành L. Về con chung: Chị Lê Thị Ngọc Y trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên là Nguyễn Thành P, sinh ngày 17/02/2022. Anh Nguyễn Thành L không cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Ngọc Y đối với anh Nguyễn Thành L.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẦN GIUỘC
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67/2023/HNGĐ–ST
Ngày: 23-5-2023
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Vân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Văn Xuân;

2. Ông Đặng Văn Vững.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Mai - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc.

Trong ngày 23 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An, Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 152/2023/TLST-HNGĐ, ngày 15/3/2023, về “ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày: 18/4/2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị Ngọc Y, sinh năm: 1986, cư trú: Ấp K, xã M, huyện C, tỉnh Long An.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Thành L, sinh năm: 1992, cư trú: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Long An.

Các đương sự vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 06/3/2023 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Lê Thị Ngọc Y trình bày:

Chị Lê Thị Ngọc Y và anh Nguyễn Thành L xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2022 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh Long An vào ngày 30/3/2022. Hôn nhân trên tinh thần tự nguyện, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc trong thời gian đầu. Sau khi kết hôn, vợ chồng ở chung với nhà mẹ ruột anh L được 6 tháng, rồi ra thuê trọ được một năm, sau đó anh L bỏ đi đến hiện tại. Nguyên nhân mâu thuẫn theo chị Y trình bày do vợ chồng có bất đồng nhiều mặt trong đời sống, nhất là về điều kiện kinh tế và quan hệ giữa hai bên nội, ngoại. Anh L không quan tâm, chăm sóc vợ con. Anh L, chị Y hiện tại không còn quan tâm đến nhau và hiện không sống chung từ cuối năm 2022 đến nay. Do tình trạng hôn nhân ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị Y yêu cầu Tòa án giải quyết:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Y yêu cầu ly hôn với anh L.

Về con chung: Chị Y và anh L có con chung tên là Nguyễn Thành P, sinh ngày 17/02/2022. Hiện cháu đang sống chung với chị Y. Khi ly hôn chị Y yêu cầu nuôi con chung không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Y không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là anh Nguyễn Thành L đã được Tòa án tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và các văn bản tố tụng khác hợp lệ, cũng như triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa sơ thẩm đến lần thứ hai, nhưng anh L đều vắng mặt không có lý do. Anh L cũng không có văn bản gửi cho Tòa án thể hiện ý kiến của anh đối với yêu cầu ly hôn của chị Y.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Căn cứ vào nơi cư trú của bị đơn và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn, xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc được pháp luật quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 của các Điều 35 và 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Chị Lê Thị Ngọc Y có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Anh Nguyễn Thành L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị C và anh V.

Về nội dung vụ án:

Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 35 ngày 30/3/2022 do Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh Long An cấp thì chị Lê Thị Ngọc Y và anh Nguyễn Thành L là vợ chồng hợp pháp.

Chị Y và anh L xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2022, cuộc sống chung của vợ chồng hạnh phúc. Sau đó, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo chị Y trình bày là vợ chồng thường xuyên cải vã, bất đồng quan điểm, anh L không chăm lo cho gia đình và con chung. Vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ cuối năm 2022 đến nay và hiện không còn sống chung. Trong thời gian không sống chung, chị Y và anh L không có biện pháp nào để hàn gắn tình cảm. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có mở phiên hòa giải, nhưng anh, chị không thể đoàn tụ được do anh L không đến. Hội đồng xét xử xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa chị Y và anh L đã trầm trọng, thời gian anh chị không sống chung đã lâu, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không còn đạt được. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của chị Y là phù hợp với Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.

Về con chung: Chị Y và anh L có con chung tên là Nguyễn Thành P, sinh ngày 17/02/2022. Hiện cháu P đang sống chung với chị Y, điều kiện sống của cháu đã ổn định. Do đó, căn cứ vào Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử giao chị Y tiếp tục nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Thành P, sinh ngày 17/02/2022.

Về mức cấp dưỡng: Chị Y không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Y không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xét đến.

Về án phí: Chị Lê Thị Ngọc Y phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm. Tạm ứng án phí chị Y đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 00011792, ngày 06/3/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc chuyển sang án phí sung quỹ Nhà nước.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 39 và 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83, 84, 85 và 86 của Luật Hôn nhân và gia đình; Áp dụng khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Ngọc Y đối với anh Nguyễn Thành L.

1. Về hôn nhân: Chị Lê Thị Ngọc Y được ly hôn với anh Nguyễn Thành L.

2. Về con chung: Chị Lê Thị Ngọc Y trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên là Nguyễn Thành P, sinh ngày 17/02/2022. Anh Nguyễn Thành L không cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, cha mẹ có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về án phí: Chị Lê Thị Ngọc Y phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm. Tạm ứng án phí chị Y đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 00011792, ngày 06/3/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc chuyển sang án phí sung quỹ Nhà nước.

Án sơ thẩm, đương sự vắng mặt kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ