vanban.org

Bản án 67/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn ông Ngô Thanh P đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh K.

Về quan hệ hôn nhân: Ông Ngô Thanh P được ly hôn với bà Nguyễn Thị Thanh K. Về con chung: Giao cho ông Ngô Thanh P được trực tiếp nuôi dưỡng con chung chưa thành niên là cháu Ngô Nguyễn Anh Q, sinh ngày 25/01/2008 và cháu Ngô Nguyễn Nhật H, sinh ngày 16/8/2010. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ngô Thanh P "Ly hôn" Nguyễn Thị Thanh"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn ông Ngô Thanh P đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh K.
  • Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CĐ
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 13-7-2023
V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con
chung”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CĐ- TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thám.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Chí Thanh.

2. Ông Nguyễn Minh Tân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện CĐ, tỉnh Long An.

Ngày 13 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện CĐ, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 181/2023/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 4 năm 2023 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Ngô Thanh P, sinh năm 1980; Địa chỉ: ấp T, xã LHT, huyện CĐ, tỉnh Long An (có mặt).

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh K, sinh năm 1987; Địa chỉ: ấp T, xã LHT, huyện CĐ, tỉnh Long An (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ly hôn ngày 29 tháng 3 năm 2023 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Ngô Thanh P trình bày: Ông và bà Nguyễn Thị Thanh K đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã LHT, huyện CĐ ngày 12/6/2008, theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 43, quyển số 01/2008. Vợ chồng có hai con chung là cháu Ngô Nguyễn Anh Q, sinh ngày 25/01/2008 và cháu Ngô Nguyễn Nhật H, sinh ngày 16/8/2010, chưa thành niên. Cuộc sống vợ chồng ông phát sinh mâu thuẫn không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau bà K đã bỏ đi nên đã ly thân từ năm 2019 đến nay. Ông xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Nguyễn Thị Thanh K. Về con chung chưa thành niên, ông Ngô Thanh P yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung chưa thành niên là cháu Ngô Nguyễn Anh Q, sinh ngày 25/01/2008 và cháu Ngô Nguyễn Nhật H, sinh ngày 16/8/2010, ông P không yêu cầu bà K cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung; về nợ chung ông xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh K vắng mặt toàn bộ quá trình giải quyết vụ án và không có ý kiến trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

Ông Ngô Thanh P và bà Nguyễn Thị Thanh K có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân xã LHT, huyện CĐ cấp giấy chứng nhận kết hôn số 43, quyển số 01/2008 ngày 12/6/2008 nên hôn nhân là hợp pháp.

[1.2] Bà Nguyễn Thị Thanh K là bị đơn, hiện nay có hộ khẩu thường trú tại xã LHT, huyện CĐ nên khi ông P có đơn khởi kiện ly hôn, Tòa án nhân dân huyện CĐ, tỉnh Long An căn cứ vào Điều 28, Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh K được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại Điều 207, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Xét yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Thanh P:

Về quan hệ hôn nhân: Ông P nộp đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà K, theo ông P nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng về tư tưởng, lối sống, vợ chồng đã ly thân từ năm 2019 đến nay không còn quan tâm chăm sóc đến nhau. Đồng thời, bà K vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án không có ý kiến trình bày cho thấy bà K không có thiện chí hàn gắn tình cảm với ông P. Hội đồng xét xử xét thấy, mục đích hôn nhân giữa ông P và bà K không đạt được, đời sống chung không thể tiếp tục kéo dài, hôn nhân lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên yêu cầu ly hôn của ông Ngô Thanh P là có căn cứ được chấp nhận.

Về con chung: Ông P và bà K có hai con chung là cháu Ngô Nguyễn Anh Q, sinh ngày 25/01/2008 và cháu Ngô Nguyễn Nhật H, sinh ngày 16/8/2010, hiện nay đang ở với ông P. Ông P yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung chưa thành niên là cháu Q và cháu H. Đồng thời cháu Q và cháu H cũng có nguyện vọng ở với ông P nên giao cho ông P tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình, ông P không yêu cầu bà K cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Ông P xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí sơ thẩm: Ông Ngô Thanh P phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 207, Điều 227, Điều 228, Điều 273, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Điều 26, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn ông Ngô Thanh P đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh K.

Về quan hệ hôn nhân: Ông Ngô Thanh P được ly hôn với bà Nguyễn Thị Thanh K.

Về con chung: Giao cho ông Ngô Thanh P được trực tiếp nuôi dưỡng con chung chưa thành niên là cháu Ngô Nguyễn Anh Q, sinh ngày 25/01/2008 và cháu Ngô Nguyễn Nhật H, sinh ngày 16/8/2010.

Tạm thời ghi nhận bà Nguyễn Thị Thanh K không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại Điều 84, Điều 85, Điều 86 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con, hạn chế quyền thăm nom con của cha mẹ đối với con chưa thành niên.

Về án phí sơ thẩm: Ông Ngô Thanh P phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình nhưng được trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0005310 ngày 19/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện CĐ, tỉnh Long An, ông P đã nộp đủ.

Về quyền kháng cáo: Ông Ngô Thanh P được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bà Nguyễn Thị Thanh K vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định của Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ