- Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Ngọc D - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Ngọc D phạm tội: "Trộm cắp tài sản".
- Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 67/2022/HSST Ngày 15/12/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH HOÁ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thiện Hoàng;
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Tô Thị Ninh;
2. Bà Nguyễn Thị Tâm;
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thanh Tân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Đại Nghĩa - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 71/2022/TLST- HS ngày 18 tháng 11 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2022/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hoàng Ngọc D (Tên gọi khác: Không), sinh năm 1984 tại huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: Xóm KB, xã BC, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 7/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; con ông Hoàng Ngọc Hồng và bà Lý Thị Kim; có vợ là Đinh Thị Hương và 02 con.
Tiền sự: Không.
Tiền án: 01. Bản án số 102/2020/HSST, ngày 29/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 18 (mười tám) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt chính ngày 11/9/2021.
Nhân thân: Bản án số 38/2012/HSST, ngày 21/8/2012 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 07 (bẩy) năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt ngày 28/4/2017, đương nhiên được xóa án tích.
Bị cáo bị bắt từ ngày 27/9/2022, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, (có mặt).
* Bị hại:
- Chị Lường Thị Hiện, sinh năm 1985; nơi cư trú: Thôn Đon Mạ, xã Yên Phong, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn, (vắng mặt).
- Anh Nguyễn D mạnh, sinh năm 2004; nơi cư trú: Xóm Ao Sen, xã Kim Phượng, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, (vắng mặt).
- Anh La Công Trọng, sinh năm 2003; nơi cư trú: Xóm Làng Phẩy, xã Sơn Phú, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, (vắng mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Bà Lý Thị Kim, sinh năm 1956; nơi cư trú: Xóm KB, xã BC, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, (có mặt).
* Người làm chứng:
- Anh Nguyễn Xuân Hòa, sinh năm 1976; nơi cư trú: Tổ dân phố Trung Kiên, thị trấn Chợ Chu, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, (vắng mặt).
NHẬN THẤY
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau.
Ngày 27/9/2022, Công an thị trấn Chợ Chu, huyện Đ tiếp nhận tin báo của ông Trần Ngọc Thắng, là phó giám đốc Bệnh viện đa khoa huyện Đ trình báo về việc trong ngày 26, 27/9/2022, tại Bệnh viện đa khoa huyện Đ thuộc tổ dân phố Trung Kiên, thị trấn Chợ Chu bị mất trộm 03 chiếc điện thoại của bệnh nhân điều trị tại Bệnh viện trị giá khoảng 22 triệu đồng. Công an thị trấn Chợ Chu, huyện Đ tiến hành xác minh, truy nguyên dấu vết xác định đối tượng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là Hoàng Ngọc D. Đến 13 giờ cùng ngày, khi triệu tập D đến làm việc D khai nhận hành vi trộm cắp 03 chiếc điện thoại và giao nộp 01 điện thoại nhãn hiệu APPLE IPHONE 11 PROMAX, số imei: 353902109922799, màu trắng, có ốp bảo vệ bằng silicon, 01 điện thoại nhãn hiệu SAMSUNG A02S màu trắng, có ốp nhựa màu đen, số imei 352845148611686 cho Công an thị trấn Chợ Chu. 01 (một) điện thoại nhãn hiệu APPLE IPHONE XSMAX bị cáo đã làm rơi mất. Cùng ngày, Công an thị trấn Chợ Chu đã chuyển hồ sơ đến Công an huyện Đ giải quyết theo thẩm quyền. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Hoàng Ngọc D, tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của D nhưng không thu phát hiện thu giữ gì.
Tại Kết luận định giá tài sản số: 32/KL-ĐG ngày 29/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện Đ, kết luận:
- 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu APPLE IPHONE 11 PROMAX, dung lượng 64GB, số seri G6TC30URN70D, IMEI1 353902109922799, IMEI2 353902109736082, màu trắng, đã qua sử dụng có giá trị là 12.000.000 đồng.
- 01 (một) điện thoại nhãn hiệu SAMSUNG A02S, số seri R9HR3053DLJ, IMEI1 352845148611686, IMEI2 353051568611681, màu trắng, đã qua sử dụng, có giá trị là 1.200.000 đồng.
- 01 (một) điện thoại nhãn hiệu APPLE IPHONE XSMAX, dung lượng 64GB, màu vàng có ốp màu trắng, đã qua sử dụng có giá trị là 7.000.000 đồng.
Tổng giá trị của 03 chiếc điện thoại theo yêu cầu định giá là: 20.200.000 đồng (Số tiền bằng chữ: Hai mươi triệu hai trăm nghìn đồng)”. Đối với 03 chiếc ốp điện thoại không có đầy đủ thông tin về nhãn hiệu, chất liệu, là loại tài sản mau hỏng nên thị trường không có bán đối với sản phẩm đã qua sử dụng. Do vậy không đủ căn cứ để xác định giá trị của 03 chiếc ốp điện thoại trên. Đối với 03 sim gắn trong 03 chiếc điện thoại của chị Hiện, anh Trọng, anh Mạnh là sim khuyến mại kèm theo điện thoại khi các bị hại mua, mặt khác đây là tài sản đặc thù người sở hữu có thể đề nghị nhà mạng cấp lại khi bị mất nên hội đồng định giá không xác định giá trị của 03 chiếc sim trên.
Vật chứng của vụ án:
- 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu APPLE IPHONE 11 PROMAX và ốp bảo vệ silicon; 01 (một) điện thoại nhãn hiệu SAMSUNG A02S và ốp bảo vệ bằng nhựa màu đen Cơ quan Điều tra đã trả lại cho anh Nguyễn D Mạnh và chị Lường Thị Hiện là chủ sở hữu quản lý, sử dụng.
- 01 (một) điện thoại nhãn hiệu APPLE IPHONE XSMAX, ốp bảo vệ bằng nhựa màu trắng, bị cáo trộm cắp của anh La Công Trọng bị cáo đã làm rơi, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được.
- 01 quần soóc màu đen, không có nhãn hiệu, 01 áo phông màu xám, không có nhãn hiệu do bị cáo mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, hiện đang lưu tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ.
Với các hành vi nêu trên, tại bản cáo trạng số: 67/CT-VKS ngày 18/11/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên, truy tố bị cáo Hoàng Ngọc D ra trước Toà án nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên để xét xử về tội: "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn ở trên và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Hoàng Ngọc D phạm tội "Trộm cắp tài sản".
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Hoàng Ngọc D từ 24 tháng đến 30 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/9/2022.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự:
Các bị hại trong vụ án gồm chị Lường Thị Hiện và anh Nguyễn D Mạnh đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm gì. Bà Lý Thị Kim là mẹ đẻ của bị cáo bồi thường số tiền 6.700.000 đồng, tương đương giá trị chiếc điện thoại bị cáo đã trộm cắp cho anh La Công Trọng, anh Trọng không yêu cầu gì thêm nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bà Kim xác định số tiền đã bồi thường cho anh Trọng thay cho bị cáo là do bà hoàn toàn tự nguyện, bà không yêu cầu bị cáo hoàn trả nên không xem xét, giải quyết.
Về vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy: 01 quần soóc màu đen, không có nhãn hiệu, 01 áo phông màu xám, không có nhãn hiệu do bị cáo mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Phần tranh luận: Bị cáo không có tranh luận, bào chữa gì.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không tranh luận gì.
Bị cáo nói lời sau cùng: Mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[ 1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và đều hợp pháp.
[ 2]. Về tội danh và điều luật áp dụng: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo Hoàng Ngọc D thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về thời gian, đặc điểm tài sản bị mất, vật chứng của vụ án và các tài liệu chứng cứ khác cơ quan điều tra đã thu thập được khách quan có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:
Do bị vôi hóa cột sống nên bị cáo vào Bệnh viện đa khoa huyện Đ thuộc tổ dân phố Trung Kiên, thị trấn Chợ Chu, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên để điều trị từ ngày 26/9/2022. Tối 26 và 27/9/2022 khi đang điều trị tại phòng 309 khoa Đông Y của Bệnh viện, lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của người khác, bị cáo đã lén lút trộm cắp 03 chiếc điện thoại, cụ thể:
Khoảng 23 giờ ngày 26/9/2022, D đi xuống tầng 2 khoa nội mục đích xem có ai sơ hở thì trộm cắp tài sản. Thấy các phòng đã tắt điện đi ngủ. D đi qua phòng 215 thấy cửa phòng không khóa. D nhìn vào trong phòng thấy trên giường ở gần cửa ra vào có 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu SAMSUNG A02S của chị Lường Thị Hiện đang sạc pin nên D nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Bị cáo đi vào phòng đến gần giường dùng tay tháo điện thoại ra khỏi sạc, cho vào túi quần, đi ra khỏi phòng, quay lên tầng 3 để về phòng. Khi đi qua phòng 311 của khoa Y học cổ truyền, D thấy phòng không khóa, tắt điện nên ngó vào trong phòng thấy anh La Công Trọng nằm quay mặt vào tường, bên cạnh anh Trọng có 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone XS max. D đến gần chỗ anh Trọng nằm lấy trộm chiếc điện thoại cho vào túi quần và đi về phòng mình ngủ. Đến khoảng 04 giờ 45 phút ngày 27/9/2022, bị cáo dậy và đi về nhà, khi đi xuống đến tầng 02 qua phòng 205 khoa nội, D nhìn vào trong phòng thấy trên giường ở gần cửa ra vào có 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 promax của anh Nguyễn D Mạnh nên D tiếp tục nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. D đi vào phòng đến gần giường để điện thoại Iphone 11 promax, D rút dây sạc ra khỏi điện thoại cho vào túi quần. D đi xuống khu nhà để xe của Bệnh viện lấy xe mô tô biển kiểm soát 20C1-29101 gửi ở đó và điều khiển xe mô tô đem tài sản trộm cắp về nhà. Ra đến Cổng bệnh viện D nhặt một túi nilon màu đen và bỏ 03 chiếc điện thoại vào trong túi treo ở móc trước yên xe, khi đi đến đoạn đường xóm Đồng Màn, xã BC, huyện Đ thì D dừng lại để hút thuốc thì thấy bị rơi mất 01 chiếc điện thoại Iphone Xsmax, D quay lại tìm thì không thấy. D quay về nhà cất giấu 02 chiếc điện thoại còn lại ở trên nóc tủ, sau đó điều khiển xe mô tô quay lại bệnh viện. Đến 10 giờ cùng ngày, khi D định ra về thì bị bảo vệ của Bệnh viện đa khoa huyện Đ giữ lại và báo cho Công an thị trấn Chợ Chu giải quyết. Tại Công an thị trấn Chợ Chu, huyện Đ D đã khai nhận hành vi trộm cắp.
Giá trị chiếc điện thoại bị cáo trộm cắp của chị Hiện là 1.200.000 đồng; Giá trị chiếc điện thoại bị cáo trộm cắp của anh Mạnh là 1.200.000 đồng; Giá trị chiếc điện thoại bị cáo trộm cắp của anh Trọng là 7.000.000 đồng. Tổng giá trị của 03 chiếc điện thoại có giá trị là: 20.200.000 đồng (hai mươi triệu hai trăm nghìn đồng).
Hành vi nêu trên của bị cáo Hoàng Ngọc D đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
Do đó, bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn ở trên và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[ 3]. Xét tính chất, hành vi của bị cáo thấy rằng:
Do nghiện ma túy, lười lao động, muốn có tiền tiêu xài và sử dụng ma túy mà bị cáo D đã nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Hành vi của bị cáo đã cố ý xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật hình sự.
[ 4]. Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng:
Bị cáo có nhân thân xấu, là đối tượng nghiện ma túy. Bị cáo có một tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, ngoài ra năm 2012 đã bị xử phạt 07 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo đã nhờ mẹ đẻ của bị cáo đã bồi thường thiệt hại bị cáo gây ra cho bị hại. Vì vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Bị cáo nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, trong đó có 02 lần trộm cắp tài sản đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm và chưa bị cơ quan nào xử lý, bị cáo có một tiền án, do vậy phải chịu các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là: "Phạm tội nhiều lần" và "Tái phạm" quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo D ra khỏi đời sống chung trong xã hội một thời gian, để bị cáo tập trung cải tạo là thỏa đáng, mới có tác dụng giáo dục, răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội, mức hình phạt tù mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp cần thiết.
[ 5]. Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo nghiện chất ma túy, không có nghề nghiệp, thu nhập gì ổn định, không có tài sản gì có giá trị. Việc áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo là không khả thi, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[ 6]. Về trách nhiệm dân sự và vật chứng:
Các bị hại trong vụ án gồm chị Lường Thị Hiện và anh Nguyễn D Mạnh đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm gì. Anh La Công Trọng đã được bà Lý Thị Kim là mẹ đẻ của bị cáo bồi thường số tiền 6.700.000 đồng, tương đương giá trị chiếc điện thoại bị cáo đã trộm cắp, anh Trọng không yêu cầu gì thêm nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bà Kim xác định số tiền đã bồi thường cho anh La Công Trọng thay cho bị cáo là do bà hoàn toàn tự nguyện, bà không yêu cầu bị cáo hoàn trả nên không xem xét, giải quyết.
Về vật chứng: 01 quần soóc màu đen, không có nhãn hiệu, 01 áo phông màu xám, không có nhãn hiệu do bị cáo mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, tại phiên tòa bị cáo không yêu cầu nhận lại, cần tịch thu tiêu hủy.
[ 7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Ngọc D phạm tội: "Trộm cắp tài sản".
Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Hoàng Ngọc D 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/9/2022.
2 . Không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Hoàng Ngọc D.
3. Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 135,136, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Hoàng Ngọc D phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Vắng mặt bị hại, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên; - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND huyện Định Hoá; - Công an huyện Định Hoá; - Cơ quan Thi hành án hình sự; - Chi cục THADS huyện Định Hoá; - Bị cáo, bị hại; người có QLNVLQ; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thiện Hoàng |