vanban.org

Bản án 67/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 27/04/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Bùi Văn H phạm tội Cố ý gây thương tích”.

Về xử lý v t chứng: Áp dụng Điều 48 Bộ lu t Hình sự và Điều 106 Bộ lu t Tố tụng Hình sự tuyên: Tịch thu tiêu hủy 01 một con dao dài 55cm, cán b ng s t dài 15cm, ph n lưỡi dài 40cm; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn H - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Văn H phạm tội Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67/2022/HS-ST
Ngày: 27-4-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Bà Hà Vân Hồng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Minh Sơn

Bà Mai Lương Anh

Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Ngọc Phú – Là thư ký Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt tham gia phiên toà: Ông Đinh Đăng Nghĩa - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 57/2022/HSST ngày 10/3/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/2022/QĐXXST- HS ngày 14 tháng 4 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Bùi Văn H, tên gọi khác: không; sinh ngày 05 tháng 8 năm 1989, tại: Thanh Hóa; nơi ĐKHKTT: Làng A, xã B, huy n C, tỉnh D; chỗ ở hi n nay: thôn A, xã B, huy n C, tỉnh D; nghề nghi p: làm nông; trình độ học vấn: không biết chữ; giới tính: Nam; quốc tịch: Vi t Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Bùi Văn T, sinh năm 1960 và bà Phạm Thị L, sinh năm 1960; gia đình có 06 anh chị em, lớn nhất sinh năm 1982, nhỏ sinh năm 1996, bị cáo là con thứ 4 trong gia đình. V , con: Bị cáo có 02 v đều không đăng ký kết hôn, Phạm Thị H, sinh năm 1992 hi n đã ly hôn , có 01 con sinh năm 2013 và Đa Cát K , sinh năm 1987, có 01 con chung sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị b t truy nã t ngày 24/10/2021, hi n đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đà Lạt. Có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

- Bà Hoàng Thị H, sinh năm 1992. Trú tại: Thôn A, xã B, huy n C, tỉnh D. Có đơn xin v ng mặt tại phiên tòa.

- Ông Đỗ Văn Th, sinh năm 1992. Trú tại: Thôn A, xã B, huy n C, tỉnh D. Có đơn xin v ng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài li u có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đư c tóm t t như sau:

Bùi Văn H là nhân viên bốc xếp của Công ty A ở phư ng A, thành phố B. Khoảng 15 gi ngày 06/01/2015, khi H đang ở nhà trọ tại t A, phư ng B, thành phố C thì có đối tư ng Bùi Văn Đ cùng quê với H và cùng làm tại công ty A tới rủ H đi đánh ngư i giành bạn gái của Đ và hứa s cho H mư n tiền thì H đồng ý rồi Đ đi về. Đến khoảng 18 gi cùng ngày, Đ điều khiển xe mô tô chở H đi uống cà phê rồi nói có thêm bạn của Đ là Th và T chưa r nhân thân, lai lịch cùng đi đánh nhau, sau khi uống cà phê xong thì Đ chở H về phòng trọ của Đ một lát rồi tiếp tục chở H ra khu vực đư ng ray xe lửa ở phư ng A, thành phố B để gặp Th, T. Tại đây Đ đưa cho H 01 con dao cán b ng s t dài khoảng 55cm rồi nói Th v T v o g c a r i đánh m y ch c n phụ th i”, H c m lấy con dao rồi Đ chở H còn Th và T đi một xe tới phòng trọ của chị Hoàng Thị H ở t 1 thôn A, xã B, thành phố C, Đ d ng xe d n Th, T vào chỉ phòng trọ của H rồi đi ra lại ngoài. Sau đó, Th, T và H đi vào phòng trọ của chị H g cửa thì có anh Đỗ Văn Th ngư i yêu của chị H ra mở cửa, lúc này trong phòng trọ có thêm chị Hoàng Thị H và chị Nguyễn Thị Ng bạn chị H c ng đang ở đây, khi thấy anh Đỗ Văn Th mở cửa thì Th, T và H dùng dao lao vào chém, thấy anh Đỗ Văn Th bị chém nên chị H chạy ra can ngăn thì bị Th, T và H chém gây thương tích. Sau đó, đư c mọi ngư i can ngăn nên Th, T và H bỏ chạy.

Tại Bản kết lu n giám định pháp y về thương tích số 99 ngày 28/5/2015 của Trung tâm pháp y tỉnh Lâm Đồng kết lu n: Chị Hoàng Thị H bị vết thương trán 3cm, vết thương bàn chân trái 3cm, vết thương c chân trái 2cm, t l t n thương cơ thể do thương tích gây nên hi n tại là 12 ; T n thương do v t s c gây nên. Ngày 18/02/2022 chị H có đơn không yêu c u bị cáo bồi thư ng và không có yêu c u gì khác.

Tại Bản kết lu n giám định pháp y về thương tích số 102 ngày 28/5/2015 của Trung tâm pháp y tỉnh Lâm Đồng kết lu n: anh Đỗ Văn Th bị vết thương đỉnh đ u 5cm, vết thương vai trái trái 1,5cm, vết thương cẳng tay trái 1,5cm, t l t n thương cơ thể do thương tích gây nên hi n tại là 6 , t n thương do v t s c gây nên. Ngày 18/02/2022 anh Th có đơn không yêu c u bị cáo bồi thư ng và không có yêu c u gì khác.

Đối với Bùi Văn Đ, theo l i khai của bị cáo Bùi Văn H thì Bùi Văn Đcùng quê với bị cáo tại A, xã B, huy n C, tỉnh B và cùng làm với bị can tại công ty A, là ngư i đã rủ bị cáo đi đánh gây thương tích cho chị Hoàng Thị H và anh Đỗ Văn Th. Quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành xác minh lại Làng A, xã B, huy n C, tỉnh D và công ty A xác định có đối tư ng tên Bùi Văn Đ, sinh năm 1987 hi n v n đang làm vi c tại công ty A. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành lấy l i khai và cho bị cáo và Bùi Văn Đ đối chất, tuy nhiên Bùi Văn Đ không th a nh n hành vi rủ bị can đi đánh nhau, bị cáo Bùi Văn H c ng khai nh n ngư i rủ bị cáo đi đánh nhau là ngư i có họ tên Bùi Văn Đ khác. Hi n nay cơ quan Cảnh sát điều tra chưa xác định đư c nhân thân, lai lịch của đối tư ng Bùi Văn Đ này nên tiếp tục điều tra, xác minh, khi nào có căn cứ s xử lý theo quy định của pháp lu t.

Vật chứng chuyển sang Chi cục thi h nh án dân sự th nh phố Đ Lạt ngày 09/3/2022 g m: 01 một con dao dài 55cm, cán b ng s t dài 15cm, ph n lưỡi dài 40cm; 01 một đi n thoại viettel màu đen đã qua sử dụng; 01 một căn cước công dân số 8089019424 mang tên Bùi Văn H.

Tại Bản cáo trạng số 63/CT-VKSĐL-LĐ ngày 08/3/2022 của Vi n kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt truy tố bị cáo Bùi Văn H về tội Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a, i, h Khoản 1, điểm đ Khoản 2 Điều 134 Bộ lu t hình sự.

Tại phiên tòa, đại di n Vi n kiểm sát giữ quyền công tố phát biểu quan điểm vụ án, giữ nguyên bản cáo trạng và đề nghị:

Về hình phạt: Áp dụng điểm a, i, h khoản 1; điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ lu t Hình sự, điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ lu t Hình sự, xử phạt bị cáo t 04 năm 06 tháng đến 05 năm tù.

Về v t chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 một con dao dài 55cm, cán b ng s t dài 15cm, ph n lưỡi dài 40cm; Trả lại cho bị cáo 01 một đi n thoại di động hi u viettel màu đen đã qua sử dụng nhưng tạm giữ để đảm bảo cho vi c thi hành án; Tuyên trả lại cho bị cáo 01 một căn cước công dân số 038089019424 mang tên Bùi Văn H.

Tại phiên tòa bị cáo không khiếu nại bản cáo trạng, xin Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài li u trong hồ sơ vụ án đã đư c tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nh n định như sau:

Về h nh vi quyết định tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an thành phố Đà Lạt, Lâm Đồng và Điều tra viên, Vi n kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, Lâm Đồng và Kiểm sát viên đã thực hi n đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ lu t tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại nào về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng đã đư c tiến hành theo đúng quy định của Bộ lu t tố tụng hình sự.

Về h nh vi phạm tội của bị cáo:

L i khai nh n tội của bị cáo tại phiên tòa phù h p với l i khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù h p với l i khai của bị hại, ngư i làm chứng và các tài li u, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết lu n bị cáo Bùi Văn H phạm tội“cố ý gây thương tích” như cáo trạng của Vi n kiểm sát đã truy tố là có căn cứ, đúng ngư i, đúng tội.

Hành vi của Bùi Văn H thực hi n trước th i điểm Bộ lu t hình sự năm 2015, sửa đ i b sung năm 2017 có hi u lực thi hành. Tuy nhiên khung hình phạt tại Điều 134 Bộ lu t hình sự năm 2015, sửa đ i b sung năm 2017 nhẹ hơn khung hình phạt tại Điều 104 Bộ lu t hình sự năm 1999, sửa đ i b sung năm 2009. Vì v y Vi n kiểm sát áp dụng khoản 3 Điều 7 Bộ lu t hình sự năm 2015, sửa đ i b sung năm 2017 và Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 để áp dụng những quy định có l i cho bị cáo là đúng quy định.

iữa bị cáo và bị hại không có mâu thu n gì nhưng khi Bùi Văn Đ rủ đi đánh ngư i giành bạn gái của Đ và Đ hứa s cho bị cáo mư n tiền thì bị cáo đã đồng ý đi cùng tới phòng trọ của chị H, dùng dao gây thương tích cho chị H với t l thương t t là 12 và anh Th với t l thương tích là 6 nên Vi n kiểm sát truy tố bị cáo tình tiết định khung là dùng hung khí nguy hiểm và có tính chất côn đồ theo quy định điểm a, i Khoản 1 Điều 134 là đúng quy định. Tuy nhiên, Vi n kiểm sát truy tố bị cáo tình tiết định khung Thuê gây thương tích hoặc gây t n hại sức khỏe hoặc gây thương tích hoặc gây t n hại sức khỏe do đư c thuê” tại điểm h Khoản 1 Điều 134 là không đúng bởi l Bùi Văn Đ chỉ hứa hẹn s cho bị cáo mư n tiền chứ không đưa tiền cho bị cáo để bị cáo thực hi n hành vi nên Tòa án không áp dụng tình tiết định khung này. Vì điểm đ Khoản 2 Điều 134 Bộ lu t Hình sự đã d n chiếu luôn điểm a, i Khoản 1 Điều 134 Bộ lu t Hình sự nên Tòa án chỉ áp dụng điểm đ Khoản 2 Điều 134 Bộ lu t Hình sự.

Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, thể hi n sự coi thư ng pháp lu t, coi thư ng tính mạng, sức khỏe của ngư i khác, gây mất tr t tự trị an xã hội. Sau khi phạm tội bị cáo đã bỏ trốn và bị b t theo l nh truy nã, gây khó khăn cho quá trình điều tra nên bị cáo phải chịu mức hình phạt nghiêm kh c, tương xứng với hành vi và h u quả đã thực hi n, cách ly bị cáo ra khỏi đ i sống xã hội một th i gian nh m răn đe, giáo dục và phòng ng a chung

Về tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ lu t Hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Ngư i bị hại không yêu c u nên Hội đồng xét xử không đề c p giải quyết.

Về x lý vật chứng: V t chứng chuyển sang Chi cục thi hành án thành phố Đà Lạt ngày 09/3/2022: 01 một con dao dài 55cm, cán b ng s t dài 15cm, ph n lưỡi dài 40cm không có giá trị sử dụng nên tuyên tịch thu tiêu hủy; 01 một đi n thoại di động hi u viettel màu đen đã qua sử dụng là tài sản của bị cáo nên tuyên trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo cho vi c thi hành án; 01 một căn cước công dân số 38089019424 mang tên Bùi Văn H là giấy t tùy thân của bị cáo nên tuyên trả lại cho bị cáo.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Bùi Văn H phạm tội Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng điểm đ Khoản 2 Điều 134, điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ lu t Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Văn H 04 (bốn) năm 06 sáu tháng tù. Th i hạn chấp hành hình phạt tù tính t ngày 24/10/2021.

2. Về xử lý v t chứng: Áp dụng Điều 48 Bộ lu t Hình sự và Điều 106 Bộ lu t Tố tụng Hình sự tuyên:

Tịch thu tiêu hủy 01 một con dao dài 55cm, cán b ng s t dài 15cm, ph n lưỡi dài 40cm;

Trả lại cho bị cáo 01 một đi n thoại di động hi u viettel màu đen đã qua sử dụng nhưng tạm giữ để đảm bảo cho vi c thi hành án;

Tuyên trả lại cho bị cáo 01 một căn cước công dân số 038089019424 mang tên Bùi Văn H.

(Tất cả vật chứng trên được bàn giao theo biên bản giao nhận vật chứng chuyển sang Chi cục thi h nh án th nh phố Đ Lạt ng y 09/3/2022).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ lu t Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và l phí Tòa án buộc bị cáo Bùi Văn H phải nộp 200.000đ hai trăm ngàn đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu c u Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Bị hại v ng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể t ngày nh n đư c bản sao bản án hoặc bản án đư c niêm yết./.

Cỡ chữ