vanban.org

Bản án 67/2022/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Nai Tuyên án 19/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Bùi Thanh M phạm tội “Giết người”.

[1] Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); Xử phạt: Bị cáo Bùi Thanh M (Chà Và) 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/06/2017. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Thanh Minh - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Thanh M phạm tội “Giết người”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67/2022/HS-ST
Ngày: 19 – 5 – 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Hồng Hương

Thẩm phán: Bà Bùi Kim Rết

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Chiến.

Bà Nguyễn Thị Chi.

Bà Trần Thị Thu Vân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Anh - Thư ký TAND tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện VKSND tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Kiên - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở TAND tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 39/2022/TLST-HS ngày 16 tháng 3 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2022/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 3 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 30/2022/HSST-QĐ ngày 19/4/2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Bùi Thanh M

Giới tính: Nam.

Tên gọi khác: Chà Và

Sinh năm 1984 tại tỉnh Đồng Nai.

Nơi cư trú: Tổ 8, khu Cầu Xéo, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

Quốc tịch: Việt Nam

Dân tộc: Kinh Tôn giáo: Không.

Trình độ học vấn: lớp 6/12. Nghề nghiệp: Lái xe.

Họ tên cha: Bùi Thanh K, sinh năm 1955 (chết).

Họ tên mẹ: Võ Ngọc C, sinh năm 1955.

Gia đình có 07 anh chị em. Bị cáo là con thứ sáu, đã có vợ tên Hoàng Thị Ngọc D, sinh năm 1985 và có 01 con sinh năm 2004.

Tiền án: Ngày 23/9/2004 bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 20 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển P tiện giao thông đường bộ”.

Tiền sự: Không

Bị cáo đầu thú và bị bắt từ ngày 01/6/2017. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Nai.

- Người bào chữa theo chỉ định của bị cáo: Luật sư Ngô Văn Đ thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đồng Nai.

Địa chỉ: 226 Phạm Văn Thuận, phường Thống Nhất, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai.

- Bị hại: Anh Nguyễn Thanh S, sinh năm 1984. (đã chết)

- Người đại diện hợp pháp của bị hại:

1. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1962. (có mặt)

2. Ông Nguyễn Phước Đ, sinh năm 1957. (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: tổ 10, khu cầu xéo, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai (ông Đức ủy Q cho bà Nhừ theo văn bản ủy Q ngày 11/7/2017).

3. Cháu Nguyễn Thanh D, sinh năm 2007.

Người đại diện hợp pháp của cháu Danh: Chị Trần Thị Bích T, sinh năm 1978. (vắng mặt)

Địa chỉ: tổ 10, khu cầu xéo, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

- Người có Q lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Trần Thị Bích T, sinh năm 1978. (vắng mặt)

Địa chỉ: tổ 10, khu cầu xéo, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

2. Anh Bùi Trí B, sinh năm 1998 (có mặt)

Địa chỉ: tổ 9, khu cầu xéo, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

3. Anh Nguyễn Đình Q, sinh năm 1995. (vắng mặt)

Địa chỉ: tổ 4, ấp T, xã L1, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

4. Anh Nguyễn Hồng S, sinh năm 2000 (vắng mặt)

Địa chỉ: tổ 4, ấp T, xã L1, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

5. Anh Võ Hoàng P, sinh năm 2001 (vắng mặt)

Địa chỉ: tổ 4, ấp T, xã L1, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

6. Anh Nguyễn Hồng D, sinh năm 1988 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp 1, thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

7. Bà Bùi Thị Ngọc A, sinh năm 1975 (có mặt)

Địa chỉ: tổ 8, khu cầu xéo, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

8. Anh Trần Văn T, sinh năm 2001 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp 1, khu phố H, thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

- Người làm chứng:

1. Ông Bùi M Trí, sinh năm 1973 (có mặt)

Địa chỉ: tổ 9, khu cầu xéo, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

2. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1971 (có mặt)

Địa chỉ: tổ 10, khu cầu xéo, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

3. Chị Võ Quỳnh H1, sinh năm 2000 (vắng mặt)

Địa chỉ: tổ 8, khu cầu xéo, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Buổi tối ngày 27/5/2017, Nguyễn Đình Q (sinh năm 1995, ngụ tại tổ 1, ấp T, xã L1, huyện L) tới dự sinh nhật bạn tại quán Karaoke Yumi (thuộc khu dân cư Chợ Mới, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai). Sau khi dự sinh nhật xong, Q ra lấy xe về thì gặp Bùi Trí B (sinh năm 1998 ngụ tại tổ 9, khu cầu Xéo, thị trấn L) cũng đến hát karaoke tại đây. Q tưởng nhầm B chửi mình nên hai bên xảy ra xô xát đA nhau. Q dùng tay đấm trúng miệng của B gây thương tích nhẹ rồi bỏ đi. Sau khi đA B, Q đã gọi điện thoại xin lỗi B nhưng B không chịu mà nhiều lần gọi điện đòi gặp Q để giải quyết mâu thuẫn. Đến khoảng 20h30 ngày 29/5/2017, Q cùng với Võ Hoàng P (sinh năm 2001); Nguyễn Hồng S (sinh năm 2000) tới quán “The 1988 cafe” (thuộc khu dân cư Chợ Mới, thị trấn L) thì gặp anh Nguyễn Thanh S (sinh năm 1984 ngụ tại tại khu cầu Xéo, thị trấn L) cùng một số người bạn đang ngồi uống nước tại đây nên nhóm Q vào ngồi ở bàn bên cạnh. Ngồi được một lúc, Q nhận được điện thoại của B đòi gặp Q, Q nhắn tin cho B nói có gì mai tính nhưng sau đó B vẫn tiếp tục gọi. Thấy vậy, anh S mới hỏi Q là có chuyện gì, Q kể lại cho anh S nghe chuyện mâu thuẫn với B và nói cho anh S biết B là cháu của Bùi Thanh M (Chà Và). Nghe xong, anh S nói với Q đưa máy để anh S nghe vì có quen biết với M, sau đó anh S nói với B cho gặp anh Bùi M Trí (cha của B) và M, chứ không nói chuyện với B nhưng B cúp máy.

Lúc này, M đang ngồi nhậu tại quán bia sệt “Ốc Đêm” (thuộc tổ 8 khu Cầu Xéo, thị trấn L) cùng với một số người bạn vừa cùng M đi câu cá về, nghe thấy B nói chuyện điện thoại với Q, M liền sử dụng số điện thoại 0902407444 gọi cho Q và xưng là Chà Và; Q liền đưa máy cho anh S nói chuyện. M hỏi anh S vì sao lại đA cháu M thì anh S nói “chuyện của mấy đứa nhỏ để tôi kêu tụi nó xuống xin lỗi”, M liền nói với anh S “kêu mấy người nào đA B xuống gia đình M để giải quyết, bên nào có lỗi thì xin lỗi cho hai bên giải hòa”, nhưng anh S không đồng ý mà lại kêu M phải lên gặp anh S. M có hỏi ở đâu thì anh S không nói rồi tắt máy. M gọi điện lại thì S không bắt máy nên M mới nhắn tin cho Q hỏi “con đang ở đâu trả lời chú biết, chú không đA con, chú ok với con”. Q nhắn tin lại “Con không có nói hỗn gì với chú đâu nha”. Khoảng 30 phút, anh S lại điện thoại cho M và nói “chuyện con nít mày thích thì gặp tao nè”. Nghe vậy, M cảm thấy bức xúc nên không nhậu nữa mà bỏ đi về nhà rồi mượn chiếc xe ô tô biển số 60A- 38522 của chị Bùi Thị Ngọc A (chị gái M) chở cháu Bùi Tuấn Lâm (03 tuổi, con chị A) đi mua sinh tố uống. Nhưng khi M chuẩn bị đi thì S lại điện thoại cho M khiêu khích nên M vào nhà lấy cây súng bắn đạn bi bỏ lên xe mang theo. Khi chạy xe đến trước cửa quán "The 1988 café" thì M thấy anh S cùng với Q, S và P đang ngồi uống nước ở trước cửa quán, M liền xuống xe đi tới thì S cũng đứng lên, M hỏi: “Mày tính sao”, anh S trả lời: “Mày thích gì”. M nói tiếp “Mày đA cháu tao mà còn hỏi tao muốn gì là sao?” anh S nói “Mày thích gì” vừa nói anh S vừa đi về phía M nên M liền quay trở lại xe ô tô lấy cây súng bắn đạn bi bắn 02- 03 phát về phía S, vừa bắn xong M cầm súng quay lại leo lên xe để về nhưng anh S chạy theo lôi M xuống xe. Trong lúc M định lấy cây súng để đA anh S đã khua súng trúng cửa xe nên cây súng bị văng xuống đất nên cả hai tiếp tục đA nhau bằng tay không. M bị S dùng tay đA trúng mắt bên phải. Cùng lúc này có 02 người thanh niên đi chung xe mô tô chạy từ hướng quán Bar tới đậu ở cạnh ngã ba, người thanh niên ngồi sau xe mô tô có cầm theo 01 con dao (dài khoảng 60cm) đi tới đưa dao cho anh S. Lập tức, anh S cầm dao chém M một nhát trúng cẳng tay trái, 01 nhát trúng ngón út và ngón áp út bàn tay phải nhưng bị M giật được con dao chém nhiều nhát vào đầu, lưng, tay và đâm một nhát trúng vào sườn bên trái của anh S làm anh S tử vong rồi lên xe ô tô đi về.

Đến 15 giờ 30 phút ngày 01/06/2017, Bùi Thanh M đã đến Công an tỉnh Đồng Nai đầu thú và khai nhận khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

*Tại biên bản khám nghiệm hiện trường vào lúc 08 giờ 30 ngày 30/5/2017 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai xác định: Nơi xảy ra vụ án tại đường khu dân cư đoạn trước quán Cafe 1988 (thuộc khu Cầu Xéo, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai).

*Tại bản Kết luận giám định pháp y về tử thi số 331/PC45-KLGĐPY ngày 05/6/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận về tình trạng thương tích và nguyên nhân tử vong của anh Nguyễn Thanh S là do sốc mất máu do đa vết thương rách đuôi tụy, đứt thận và động mạch thận.

- Hung khí: Vật sắc nhọn (một loại).

* Tại Kết luận giám định số 2214/C54B ngày 14 tháng 9 năm 2017 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí M kết luận như sau: Các dấu vết màu nâu đỏ nghi máu dính trên xe ô tô BKS: 60A- 385.22 và dính trên lá cây thu tại hiện trường là máu người. Phân tích ADN từ các mẫu máu này được kiểu gen hoàn chỉnh của một nam giới và trùng với kiểu gen của Bùi Thanh M.

* Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần số 03/KL-VPYTW ngày 03/01/2018 của Viện Pháp y tâm thần Trung ương Biên Hòa kết luận tình trạng tâm thần của bị cáo Bùi Thanh M như sau:

- Về y học: Trước, trong, sau khi gây án: Đương sự bị bệnh Rối loạn nhân cách và hành vi do chất gây ảo giác (F16.71 - ICD. 10).

- Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi:

+ Tại thời điểm gây án: Đương sự bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

+ Hiện nay: Đương sự chưa đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi để làm việc với cơ quan pháp luật.

* Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần sau thời gian điều trị bắt buộc số 176/KLBB-VPYTW ngày 03/3/2021 của Viện Pháp y tâm thần Trung ương Biên Hòa kết luận tình trạng tâm thần của bị cáo Bùi Thanh M như sau:

- Về y học: Trước, trong, sau khi gây án và hiện nay: Đương sự bị bệnh Rối loạn nhân cách và hành vi do sử dụng chất kích thích (F15.71 - ICD. 10).

- Bị bệnh rối loạn sự thích ứng với phản ứng hỗn hợp lo âu trầm cảm/ Rối loạn nhân cách và hành vi do chất ảo giác (F43.22/ F16.71- ICD.10).

- Hiện nay đã ổn định, không cần thiết điều trị bắt buộc nữa. Đương sự có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi để làm việc với cơ quan pháp luật.

* Vật chứng của vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai đã thu giữ: 02 viên bi bằng kim loại màu trắng (loại bi xe đạp).

Đối với con dao mã tấu bằng kim loại (dài khoảng 60cm) và khẩu súng (loại súng tự chế bắn cồn, đạn bi) mà bị cáo Bùi Thanh M đã sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội hiện đã thất lạc không thu hồi được.

* Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, gia đình bị cáo Bùi Thanh M đã tự nguyện bồi thường số tiền 303.500.000 đồng cho gia đình nạn nhân Nguyễn Thanh S. Ông Nguyễn Phước Đức và bà Nguyễn Thị Nhừ - đại diện hợp pháp của nạn nhân S đã nhận đủ tiền và làm đơn bãi nại đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo M.

* Tại Cáo trạng số 4545/CT-VKS-P2 ngày 06/9/2021 và Văn bản số 274/VKS-P2 ngày 14/3/2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Bùi Thanh M về tội “Giết người” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tại phiên tòa hôm nay, đại diện VKSND tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị xử phạt bị cáo Bùi Thanh M mức án từ 12 năm đến 14 năm tù.

Về phần dân sự và xử lý vật chứng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định pháp luật.

* Luật sư Ngô Văn Định bào chữa cho bị cáo nêu quan điểm cho rằng:

Hành vi của bị cáo M không có tính chất côn đồ vì bị cáo bị người bị hại chém trước (có thương tích nhưng do bị cáo không đi giám định thương tật nên không có tỷ lệ thương tật). Bản thân bị cáo bị tâm thần theo Kết luận giám định tâm thần số 176/KLBB-VPYTW ngày 03/3/2021 của Viện Pháp y tâm thần Trung ương Biên Hòa. Hung khí là của phía bị hại (không phải của bị cáo), bị cáo đã lên xe đi về nhưng bị người bị hại kéo lại dẫn đến đA nhau và hậu quả như trên. Vì vậy đề nghị HĐXX xem xét lại tội danh đối với bị cáo M (Giết người trong trạng thái tinh thần kích động mạnh).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Các cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật đối với bị cáo, bị cáo đã được nhận đầy đủ Kết luận điều tra, cáo trạng và Quyết định đưa vụ án ra xét xử, đảm B Q được Luật sư bào chữa, tại phiên tòa bị cáo cũng không khiếu nại thắc mắc gì.

Do mâu thuẫn trong sinh hoạt, khoảng 22 giờ 30 ngày 29/5/2017, bị cáo Bùi Thanh M điều khiển xe ô tô biển số 60A- 38522 đến quán Cafe 1988 (thuộc khu Cầu Xéo, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai) tìm anh Nguyễn Thanh S. Tại đây khi nhìn thấy anh S, bị cáo đã dùng súng tự chế bắn đạn bi bắn 02-03 phát về phía anh Nguyễn Thanh S nhưng không trúng (đe dọa) rồi bỏ đi, S bực tức đã đi đến chỗ xe ô tô của bị cáo M thách thức đA nhau, cả 02 đã đA nhau bằng tay sau đó anh S đã dùng 01 con dao (dài khoảng 60cm) chém một nhát trúng cẳng tay trái, 01 nhát trúng ngón út và ngón áp út bàn tay phải của bị cáo Bùi Thanh M (bị cáo bị thương nhưng không đi giám định thương tật); bị cáo M liền giật con dao của anh S và chém nhiều nhát vào đầu, lưng, tay, sau đó đâm một nhát trúng vào sườn bên trái của anh S. Hậu quả anh Nguyễn Thanh S tử vong do sốc mất máu do đa vết thương rách đuôi tụy, đứt thận và động mạch thận. (theo Kết luận giám định pháp y về tử thi số 331/PC45-KLGĐPY ngày 05/6/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai).

Với hành vi phạm tội nêu trên, bị cáo Bùi Thanh M bị VKSND tỉnh Đồng Nai truy tố về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n “có tính chất côn đồ” khoản 1 Điều 123 BLHS là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật B vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa P. Trong vụ án này, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ không phải của mình (bênh vực cháu) mà bị cáo đã mang theo súng (bắn đạn bi) đến gặp bị hại để giải quyết mâu thuẫn. Tại đây, khi bị cáo bị người bị hại dùng dao chém vào tay nhiều nhát, bị cáo đã tước dao và chém lại người bị hại nhiều nhát dẫn đến người bị hại tử vong, cho thấy hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm, thể hiện sự xem thường sức khỏe, tính mạng người khác, xem thường pháp luật. Do đó, Viện kiểm sát truy tố bị cáo với tình tiết định khung quy định tại điểm n “có tính chất côn đồ” là có căn cứ, đúng pháp luật (Hành vi của bị cáo không thuộc trường hợp tinh thần bị kích động mạnh như quan điểm bào chữa của luật sư nêu). Ngoài ra, bị cáo còn là người có nhân thân xấu, năm 2004 bị xử phạt tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển P tiện giao thông đường bộ” chưa được xóa án tích nhưng không lấy đó làm bài học tu dưỡng, sửa chữa bản thân mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nghiêm trọng hơn thuộc trường hợp “tái phạm” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Do đó, cần có mức hình phạt nghiêm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, khi lượng hình, Hội đồng xét xử xem xét: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tác động gia đình bồi thường viện phí, chi phí mai táng, xây mộ và tiền tổn thất tinh thần cho gia đình người bị hại với số tiền 303.500.000 đồng (Ba trăm lẻ ba triệu năm trăm nghìn đồng) nên đã được đại diện hợp pháp của bị hại có đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; Trong quá trình điều tra, bị cáo bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, phải đi điều trị bắt buộc (theo Quyết định số 63/QĐ-VKS-P2 ngày 18/01/2018 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh từ ngày 23/01/2018 đến ngày 12/03/2021). Do đó HĐXX xem xét áp dụng điểm b, q, s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là có cơ sở.

Đối với Bùi Trí B, quá trình xét xử Tòa án đã trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung để xem xét có hay không vai trò đồng phạm của B trong vụ án, nhưng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã cho nhận dạng, đối chất giữa Bùi Trí B với các nhân chứng Nguyễn Đình Q, Nguyễn Hồng S, Nguyễn Hồng D và Võ Hoàng P, các nhân chứng đều không thể xác định được 02 thanh niên đi mô tô cầm hung khí đến hiện trường có phải là Bùi Trí B không? Bản thân Bùi Trí B trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đều không thừa nhận hành vi phạm tội nên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quan điểm (tại Văn bản số 274/VKS-P2 ngày 14/5/2022). Do đó, chưa đủ căn cứ xác định Bùi Trí B đồng phạm với Bùi Thanh M về tội “Giết người”; Đối với 02 thanh niên đi xe mô tô mang dao đến đưa cho anh Nguyễn Thanh S, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai cũng đã tách ra tiếp tục xác M, làm rõ xử lý sau nên HĐXX không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về trách nhiệm dân sự:

Trong quá trình điều tra, gia đình bị cáo Bùi Thanh M đã tự nguyện bồi thường số tiền 303.500.000 đồng (Ba trăm lẻ ba triệu năm trăm nghìn đồng) cho gia đình nạn nhân Nguyễn Thanh S. Ông Nguyễn Phước Đức và bà Nguyễn Thị Nhừ - đại diện hợp pháp của nạn nhân S đã nhận đủ tiền và làm đơn bãi nại về dân sự. Tại phiên tòa bà Nhừ cũng không có yêu cầu gì thêm, nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

Xét quan điểm của Viện kiểm sát tỉnh Đồng Nai phù hợp quan điểm Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Xét quan điểm của luật sư bào chữa cho bị cáo về tội danh không phù hợp quan điểm Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.

Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Bùi Thanh M phạm tội “Giết người”.

[1] Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);

Xử phạt: Bị cáo Bùi Thanh M (Chà Và) 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/06/2017.

[2] Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015:

- Tuyên tịch thu tiêu hủy 02 viên bi bằng kim loại màu trắng (loại bi xe đạp).

(Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 16/9/2021 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai theo Quyết định chuyển vật chứng số 4546/QĐ-VKS-P2 ngày 06/9/2021 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai).

[3] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[4] Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, đại diện hợp pháp của người bị hại, người có Q lợi nghĩa vụ liên quan được Q kháng cáo theo luật định.

Cỡ chữ