- Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Minh T “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài li…"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 341 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 67/2022/HS-ST Ngày 28 - 11 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Xuân Diệu.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Dương Quốc Phòng và bà Nguyễn Thị Hải.
- Thư ký phiên toà: bà Nguyễn Thị Nhạn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bố Trạch.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch tham gia phiên toà: ông Trần Cẩm Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 79/2022/HSST ngày 17/11/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2022/QĐXXST - HS ngày 18/11/2022, đối với bị cáo: Võ Minh T, sinh ngày 09 tháng 10 tháng 1971 tại Bố Trạch, Quảng Bình; nơi cư trú: thôn Tây Thành, xã Nam Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Nhân viên Công ty TNHH Thương mại - Vận tải X; trình độ học vấn phổ thông: lớp 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ P và bà Đỗ Thị M (đều đã chết); có vợ là Võ Thị An L và 02 con (con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2018); tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty TNHH Thương mại và Vận tải X; địa chỉ: Thôn 16, xã L, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình; người đại diện theo pháp luật: bà Nguyễn Thị Thu H - Chủ tịch kiêm Giám đốc Công ty; có mặt.
- Người làm chứng: ông Đinh Văn L, sinh năm 1989; nơi cư trú: thôn S, xã P, huyện T, tỉnh Quảng Bình; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Võ Minh T là Trưởng phòng xe máy của Công ty TNHH Thương mại và Vận tải X. Quá trình làm việc, Công ty giao Võ Minh T quản lý phương tiện vận tải và có trách nhiệm làm thủ tục để các cơ quan chức năng cấp giấy phép lưu hành xe quá khổ giới hạn trên đường bộ để giao cho lái xe sử sụng khi tham gia giao thông.
Đầu tháng 4/2022, Võ Minh T thấy để được cấp giấy phép lưu hành xe quá khổ giới hạn mất nhiều thời gian, nên T tự tìm hiểu trên mạng Internet và thấy một số nơi làm giả giấy phép nói trên. T liên lạc với một người đàn ông qua điện thoại để đặt làm giả giấy phép lưu hành xe quá khổ giới hạn với phí một giấy là 1.000.000 đồng. T chụp ảnh đăng ký và giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ của xe ôtô đầu kéo BKS 73C - 075.29 và sơ mi rơ moóc BKS 73R - 004.84 rồi gửi cho người đàn ông đó. Mấy ngày sau, người này gửi giấy phép cho T qua dịch vụ giao hàng thu tiền hộ, T nhận giấy phép giả và trả 1.000.000 đồng, sau đó T đưa cho ông Đinh Văn L là lái xe của Công ty để ông L điều khiển xe ôtô đầu kéo BKS 73C - 075.29 và sơ mi rơ moóc BKS 73R
- 004.84 chở hàng là bộ phận của Cẩu xích từ Đắk Lắk. Khi về đến thôn 7, xã L, huyện B thì xảy ra tai nạn giao thông. Ngày 06/5/2022, Võ Minh T được Công ty TNHH Thương mại và Vận tải X ủy quyền làm người đại diện cho Công ty để giải quyết các đề liên quan đến vụ tai nạn, khi Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bố Trạch yêu cầu xuất trình Giấy phép lưu hành của xe ôtô đầu kéo BKS 73C - 075.29 và sơ mi rơ moóc BKS 73R - 004.84 thì T đưa cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bố trạch giấy phép lưu hành giả trên nhằm tránh việc bị Cơ quan chức năng xử phạt vi phạm.
Ngày 24/5/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B Quyết định trưng cầu giám định số 70/QĐ-CSĐT, trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình giám định Giấy phép lưu hành xe quá khổ giới hạn trên đường bộ số: 2038/GPHX-SGTVT ghi do Sở Giao thông vận tải tỉnh Quảng Bình cấp ngày 20/4/2022.
Theo Kết luận giám định số: 638/KL-KTHS ngày 30/5/2022 của Phòng Kỹ thuận hình sự Công an tỉnh Quảng Bình: Giấy phép lưu hành xe quá khổ giới hạn trên đường bộ có giá trị đến hết ngày 20/4/2022, số 2308/GPLX-SGTVT, cấp ngày 20/4/2022, ghi do Sở Giao thông vận tải tỉnh Quảng Bình cấp cho xe đầu kéo BKS 73C - 075.29 và sơ mi rơ moóc BKS 73R - 004.84 là giả.
Ngày 13/5/2022, Sở Giao thông vận tải tỉnh Quảng Bình có công văn số: 1204 trả lời không cấp Giấy phép lưu hành số 2038/GPLX-SGTVT ngày 20/4/2022.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ các vật chứng gồm: 01 Giấy phép lưu hành xe quá khổ giới hạn trên đường bộ số: 2308/GPLX-SGTVT do Sở Giao thông vận tải tỉnh Quảng Bình cấp ngày 20/4/2022 (giấy phép giả), hiện đang lưu giữ tại hồ sơ vụ án.
Tại Cáo trạng số: 76/CT-VKSBT ngày 17 tháng 11 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình đã truy tố bị cáo Võ Minh T về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 341, các điểm i, s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự: xử phạt Võ Minh T từ 12 đến 15 tháng cải tạo không giam giữ. Miễn khấu trừ thu nhập trong thời gian chấp hành hình phạt cho bị cáo Võ Minh T.
- Vật chứng vụ án: 01 Giấy phép lưu hành xe quá khổ giới hạn trên đường bộ số: 2308/GPLX-SGTVT ngày 20/4/2022 là vật chứng vụ án có giá trị chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo nên cần tịch thu và lưu giữ tại hồ sơ vụ án.
Tại phiên tòa, bị cáo nhất trí với tội danh, khung hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch đã truy tố và quan điểm luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Tại lời nói sau cùng, bị cáo trình bày đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình là sai trái, bị cáo rất ăn năn hối hận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Như vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa vắng mặt người làm chứng, tuy nhiên, sự vắng mặt này không gây trở ngại đến việc xét xử vụ án, vì vậy, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án vắng mặt người làm chứng.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Võ Minh T đều thống nhất khai nhận: Do không muốn mất nhiều thời gian trong việc làm thủ tục cấp giấy phép lưu hành xe quá khổ giới hạn trên đường bộ, Võ Minh T đã liên hệ với một đối tượng không quen biết trên mạng internet và cung cấp các thông tin để thuê làm giả Giấy phép lưu hành xe quá khổ giới hạn trên đường bộ với giá 1.000.000 đồng. Ngày 06/5/2022, tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bố Trạch, vì muốn tránh việc bị xử phạt vi phạm liên quan đến vụ tai nạn do lái xe của Công ty gây ra nên T đã xuất trình Giấy phép lưu hành xe quá khổ giới hạn trên đường bộ giả số: 2038/GPHX-SGTVT, Sở Giao thông vận tải tỉnh Quảng Bình cấp ngày 20/4/2022, cấp cho xe đầu kéo BKS 73C-075.29 và sơ mi rơ moóc BKS 73R-004.84 thì bị phát hiện. Lời khai nhận của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định cũng như các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có đủ cơ sở để kết luận: bị cáo Võ Minh T đã phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và bản luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Xét về tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra trong vụ án này thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện ý thức coi thường pháp luật, đã xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính trong việc ban hành, quản lý và sử dụng giấy tờ, tài liệu của cơ quan tổ chức, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự quản lý giao thông đường bộ. Bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực để nhận thức hành vi sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức là vi phạm pháp luật, nhưng do ý thức coi thường pháp luật nên vẫn thực hiện. Vì vậy, cần áp dụng mức hình phạt đủ nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo nhằm có đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo là người có nhân thân tốt. Không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào và được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bố bị cáo là người có thành tích trong kháng chiến chống Mỹ được tặng Bằng khen quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo mà chỉ cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo được cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương và gia đình là cũng đủ nghiêm. Xét bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, có xác nhận của chính quyền địa phương nơi cư trú, vì vậy, không khấu trừ thu nhập của bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt.
Trong vụ án này có ông Đinh Văn L là người lái xe đầu kéo BKS 73C-075.29 và sơ mi rơ moóc BKS 73R-004.84, có sử dụng nhưng không biết Giấy phép lưu hành xe quá khổ giới hạn trên đường bộ số 2038/GPHX-SGTVT ngày 20/4/2022 là giả. Vì vậy, không truy cứu trách nhiệm đối với ông Đinh Văn L. Đối với người đại diện hợp pháp của Công ty TNHH Thương mại và Vận tải X là bà Nguyễn Thị Thu Hà không biết hành vi mua và sử dụng giấy phép lưu hành giả của Võ Minh T nên không xem xét xử lý.
Đối với người đàn ông cung cấp Giấy chứng nhận lưu hành xe quá khổ giới hạn giả cho Võ Minh T, hiện chưa xác minh được, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh khi nào có kết quả xử lý sau.
Về xử lý vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 Giấy phép lưu hành xe quá khổ giới hạn trên đường bộ số: 2308/GPLX-SGTVT ngày 20/4/2022 là tài liệu có giá trị chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo nên tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật để sung vào công quỹ Nhà nước.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 341, các điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 và Điều 36 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
1. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Võ Minh T phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
2. Về hình phạt:
Phạt bị cáo Võ Minh T 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ, thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã Nam Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình nhận được bản án và quyết định thi hành án.
Miễn khấu trừ thu nhập trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ cho bị cáo Võ Minh T.
Giao bị cáo Võ Minh T cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt. Trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, bị cáo Võ Minh T phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật Thi hành án hình sự.
3. Về án phí: Buộc bị cáo Võ Minh T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung vào công quỹ Nhà nước.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 28 tháng 11 năm 2022.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Bình; - VKSND tỉnh Quảng Bình; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Bình; - Phòng PV 06 Công an tỉnh Quảng Bình; - VKSND huyện Bố Trạch; - Công an huyện Bố Trạch; - Chi cục THADS huyện Bố Trạch; - Bị cáo; người có QLNVLQ; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Xuân Diệu |