vanban.org

Bản án 67/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 16/12/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 16/12/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo PQK; giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 42/2022/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Vĩnh Long.

Xử phạt bị cáo PQK 09 (chín) tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt chấp hành án. Án phí: áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "PQK- CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một s…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo PQK; giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 42/2022/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67/2022/HS-PT
Ngày: 16 - 12 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Kiều Duyên

Các Thẩm phán:

Ông Lê Thành Tân

Bà Nguyễn Thị Tư

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Kiến Toàn – Thẩm tra viên của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Vĩnh - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 133/2022/TLPT-HS ngày 04 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo PQK do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 42/2022/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Vĩnh Long.

- Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: PQK, sinh năm: 1995.

Nơi cư trú: ấp Vĩnh Th, xã Thuận Th, huyện T, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Trường V (chết) và bà Trần Thị H; tiền án: không.

Tiền sự: ngày 06/10/2021 bị Công an xã Thuận Th, huyện T ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích”.

Bị cáo hiện tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo PQK: ông Lê Tiến D, Luật sư Công ty TNHH MTV Trần N và Cộng sự thuộc Đoàn luật sư tỉnh Vĩnh Long. (có mặt)

Ngoài ra, bị hại Nguyễn Hoàng Nh; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Nguyễn Thị Mỹ Ph không có kháng cáo, không bị kháng nghị hoặc không có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị, tòa không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ ngày 20/3/2022, bị cáo PQK nghe tiếng xe mô tô chạy qua chạy gồ ga (nẹt bô) nhiều lần lại trên đường nhựa trước cửa nhà bị cáo nên bị cáo K cầm một đoạn thanh gỗ dài 145cm, rộng 4,5cm dày 2cm nặng 1,1kg đi ra đứng cặp đường nhựa. Khoảng 22 giờ 20 phút cùng ngày thì bị cáo K thấy có ánh đèn xe mô tô do bị hại Nguyễn Hoàng Nh điều khiển chạy tới. Bị cáo K nghĩ rằng xe này đã chạy ngang gồ ga nhiều lần gây ồn ào nên bị cáo K đứng cầm khúc gỗ chặn xe bị hại Nh lại. Khi bị hại Nh vừa xuống xe thì bị bị cáo K cầm khúc gỗ đánh trúng vào vùng đầu, lưng gây thương tích cho bị hại Nh và dùng tay xô đẩy xe mô tô biển số 64F1-531.85 rơi xuống mé nước làm hư hỏng đầu xe; bị hại Nh được đưa đi cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện T khâu vết thương rồi cho về, ngày 21/3/2022 bị hại Nhân đến Bệnh viện đa khoa Trung ương Cần Thơ khám kiểm tra vết thương vùng đầu.

Ngày 24/3/2022 bị hại Nh có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với PQK. Ngày 28/3/2022 Công an xã Thuận Th chuyển nguồn tin cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T thụ lý.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 67/2022/TgT ngày 28/4/2022 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế tỉnh Vĩnh Long, kết luận:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Vết thương chẩm phải kích thước 3 x 0,2cm do vật tày gây nên không ảnh hưởng thẩm mỹ, di chứng. Tỷ lệ 01%.

- Chấn thương phần mềm lưng phải do vật tày gây nên hiện tại sây sát da kích thước 05 x 02 cm không ảnh hưởng thẩm mỹ, di chứng. Tỷ lệ 01%.

2. Theo thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của Nguyễn Hoàng Nh hiện tại là 02%.

Về vật chứng: bị cáo K giao nộp một đoạn thanh gỗ dài 145cm, rộng 4,5cm dày 2cm nặng 1,1kg và 5.000.000 đồng để khắc phục cho bị hại Nh.

Tại bản án Hình sự sơ thẩm số: 42/2022/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện T đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo PQK phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo PQK 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt chấp hành án.

Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, án phí, xử lý vật chứng và quyền kháng cáo vụ án theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 05 tháng 10 năm 2022, bị cáo PQK có đơn kháng cáo với nội dung: xin tòa án cấp phúc thẩm xem xét cho bị cáo được hưởng 06 tháng tù treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo trình bày: vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long phát biểu quan điểm: sau khi phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt. Đề nghị căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 của Bộ luật Tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo; giữ nguyên bản án sơ thẩm 42/2022/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện T. Căn cứ điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo PQK 09 tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Luật sư Lê Tiến D bào chữa cho bị cáo trình bày: bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ như: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bản thân bị cáo mới phạm tội lần đầu; chưa có tiền án, tiền sự; khắc phục toàn bộ hậu quả, bản thân bị cáo hiện chưa có việc làm; đề nghị xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Lời nói sau cùng của bị cáo: xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng; do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: khoảng 22 giờ 20 phút ngày 20/3/2022, bị cáo PQK đã có hành vi cầm một đoạn thanh gỗ dài 145cm, rộng 4,5cm dày 2cm nặng 1,1kg chặn đầu xe của bị hại Nguyễn Hoàng Nh; đánh trúng vào vùng đầu, lưng gây thương tích cho bị hại Nh và dùng tay đẩy xe mô tô biển số 64F1-531.85 rơi xuống mé nước làm hư hỏng đầu xe, do bị cáo K nghi ngờ bị hại Nh là người điều khiển xe mô tô chạy qua chạy lại rồ ga (nẹt bô) nhiều lần lại trên đường nhựa trước cửa nhà bị cáo. Sau khi gây thương tích cho bị hại Nh, bị hại Nh được đưa đi cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện T; ngày 24/3/2022 bị hại Nh làm đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với bị cáo K. Theo kết luận giám định pháp y về thương tích số 67/2022/TgT ngày 28/4/2022 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế tỉnh Vĩnh Long, kết luận: tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của Nguyễn Hoàng Nh hiện tại là 02%. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo K về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là phù hợp, đúng quy định của pháp luật.

Đối với kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo K: khi quyết định hình phạt cho bị cáo, cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để tuyên phạt bị cáo; sau khi xử sơ thẩm bị cáo đã khắc phục toàn bộ số tiền bồi thường thiệt hại theo yêu cầu của bị hại và có đơn xin xác nhận ông nội ruột của bị cáo là ông Phạm Văn Bé là người có công với cách mạng; tuy nhiên, bị cáo có 01 tiền sự vào ngày 06/10/2021 về hành vi đánh nhau; do đó mức án cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo; nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo Khánh.

Lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.

Lời bào chữa của luật sư là chưa được chấp nhận.

Về án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo PQK; giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 42/2022/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Vĩnh Long.

Căn cứ điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo PQK 09 (chín) tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt chấp hành án.

Án phí: áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo PQK phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ