- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” của nguyên đơn bà Đặng Hồng N đối với bị đơn ông Trần Văn H.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ – TP. ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 67/2022/HNGĐ-ST Ngày: 30 - 12 - 2022 Về việc: "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ-TP ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Ánh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Minh Thân
Bà Lê Thị Nhớ
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Quỳnh Như – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Bách - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 265/2022/TLST-HNGĐ, ngày 05 tháng 10 năm 2022 về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 265/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 11 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 37/2022/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Đặng Hồng N, sinh năm: 1985;
Địa chỉ: K112H59/17 T, tổ 28, phường T, quận T, thành phố Đ (Có mặt)
2. Bị đơn: Ông Trần Văn H, sinh năm 1987;
Địa chỉ: 368/25 T, phường X, quận T, thành phố Đ. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 11/8/2022, bản tự khai đề ngày 19/8/2022 và tại phiên tòa, nguyên đơn là bà Đặng Hồng N trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Đặng Hồng N và ông Trần Văn H đăng ký kết hôn vào ngày 18/7/2019 tại UBND phường X, quận T, thành phố Đ. Sau khi kết hôn, chung sống hạnh phúc được một thời gian thì bà N và ông H phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do không tìm được tiếng nói chung, ông H thường xuyên say xỉn. Những lúc say xỉn ông H đánh đập, chửi mắng, dùng hung khí nguy hiểm dọa giết bà N và không làm tròn trách nhiệm một người chồng, người cha. Vì cuộc sống gia đình căng thẳng nên tình cảm vợ chồng phai nhạt, hiện nay ông H và bà N đã sống ly thân. Nay bà N xác định tình cảm vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng, hạnh phúc hôn nhân không thể hàn gắn. Vì vậy, bà N yêu cầu Tòa án giải quyết để bà được ly hôn với ông Trần Văn H.
- Về con chung: Bà Đặng Hồng N xác định vợ chồng có 02 (hai) con chung là: Trần Ngọc H1, sinh ngày: 01/8/2019 và Trần Ngọc Bảo A, sinh ngày: 23/10/2021. Ly hôn bà N có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng con chung Trần Ngọc Bảo A và giao con Trần Ngọc H1 cho ông Trần Văn H chăm sóc, không ai cấp dưỡng nuôi con cho nhau.
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Đặng Hồng N xác định không có.
Bị đơn là ông Trần Văn H mặc dù đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do; không có ý kiến, văn bản phản hồi.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng phát biểu ý kiến tại phiên toà về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa cũng như việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng pháp luật, riêng bị đơn không thực hiện đúng pháp luật tố tụng dân sự và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn bà Đặng Hồng N đối với bị đơn ông Trần Văn H về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con".
- Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử cho bà Đặng Hồng N được ly hôn với ông Trần Văn H theo Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
- Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung Trần Ngọc H1, sinh ngày: 01/8/2019 cho ông Trần Văn H chăm sóc, nuôi dưỡng. Giao con chung Trần Ngọc Bảo A, sinh ngày: 23/10/2021 cho bà Đặng Hồng N trực tiếp nuôi dưỡng. Bà N không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung nên không đề cập giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Đặng Hồng N xác định không có nên không đề cập giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn ông Trần Văn H có hộ khẩu thường trú và sinh sống tại địa chỉ tại số 368/25 T, tổ 37, phường X, quận T, thành phố Đ nên theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
Về tố tụng: Bị đơn ông Trần Văn H mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn là ông Trần Văn H.
Về nội dung vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: Tại phiên toà, bà Đặng Hồng N cho rằng mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, bà N không thể tiếp tục chung sống với ông Hùng. Do vậy, yêu cầu Toà án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Trần Văn H.
Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, quá trình tranh tụng và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê tại phiên tòa thể hiện: Hôn nhân giữa bà Đặng Hồng N và ông Trần Văn H là hợp pháp. Theo bà N trình bày trong quá trình chung sống vợ chồng đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông H không có trách nhiệm với gia đình, thường xuyên rượu chè, chửi mắng và có bạo lực gia đình. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã xác minh tại tổ 28, phường T, quận T, thành phố Đ theo Biên bản xác minh ngày 24/11/2022 thể hiện: Trong quá trình sống chung tại địa phương thì bà N và ông H nhiều lần xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, to tiếng với nhau, đến đầu năm 2022 thì ông H không còn sống chung với bà N tại địa chỉ trên. Hơn nữa, Tòa án cũng đã nhiều lần triệu tập ông H đến tham gia phiên hòa giải và tham gia phiên tòa nhưng ông đều vắng mặt không có lý do, điều đó chứng tỏ ông H bỏ mặc, không muốn hàn gắn mối quan hệ hôn nhân với bà N nên Hội đồng xét xử có căn cứ định xác định mâu thuẫn vợ chồng như bà N trình bày là có thật.
Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng của bà N và ông H đã thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, nguyện vọng xin được ly hôn của bà Đặng Hồng N là chính đáng, phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
-Về con chung: Bà Đặng Hồng N và ông Trần Văn H có 02 con chung Trần Ngọc H1, sinh ngày: 01/8/2019; Trần Ngọc Bảo A, sinh ngày: 23/10/2021. Ly hôn, bà N có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng con chung Trần Ngọc Bảo A và giao con Trần Ngọc H1 cho ông Trần Văn H chăm sóc, nuôi dưỡng. Không bên nào cấp dưỡng nuôi con cho nhau.
Hội đồng xét xử thấy: Cha, mẹ có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con sau ly hôn. Song việc giao con cho ai nuôi cần xem xét mọi mặt để không ảnh hưởng đến sự phát triển về tinh thần, thể chất cũng như quyền lợi của con. Xét thấy, hiện nay cháu Trần Ngọc H1 đã hơn 36 tháng tuổi và đang sống cùng với ông Hùng; bà N cũng có nguyện vọng giao cháu H1 cho ông H chăm sóc nuôi dưỡng bởi lẽ hiện nay hoàn cảnh kinh tế của bà khó khăn, đơn chiếc, không đủ khả năng để nuôi dưỡng cả 02 con chung. Đối với cháu Trần Ngọc Bảo A thì có giới tính nữ, đang do bà N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng nên việc giao cháu Huy cho ông H và giao cháu A cho bà N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là cho đến khi các cháu đủ tuổi thành niên, 18 tuổi là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Đặng Hồng N xác định không có nên HĐXX không đề cập giải quyết.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Đặng Hồng N phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; 266; 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Các Điều 56; 58; 81; 82; 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” của nguyên đơn bà Đặng Hồng N đối với bị đơn ông Trần Văn H.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Đặng Hồng N được ly hôn với ông Trần Văn H.
2. Về con chung:
Giao con chung Trần Ngọc H1, sinh ngày: 01/8/2019 cho ông Trần Văn H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Giao con chung Trần Ngọc Bảo A, sinh ngày: 23/10/2021 cho bà Đặng Hồng N trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Bà Đặng Hồng N và ông Trần Văn H không cấp dưỡng nuôi con cho nhau.
Các bên vẫn có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Khi cần thiết vì lợi ích con chung, các bên đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) bà Đặng Hồng N phải chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng bà đã nộp theo biên lai thu số 0002962 ngày 05 tháng 10 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Bà N đã nộp đủ án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết trích sao bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các bên đương sự; - VKSND quận Thanh Khê; - Chi cục THADS quận Thanh Khê; - UBND phường Xuân Hà, quận Thanh Khê, TP. Đà Nẵng. (Giấy CNKH số 85, ngày 18/7/2019); - Lưu: Hồ sơ vụ án. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Thị Kim Ánh |