- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp HNGĐ"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Thị V.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH PHÚ YÊN ———— Bản án số: 67/2022/HNGĐ-ST Ngày: 29-8-2022 V/v: Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Vĩnh Phúc
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Tuyển và bà Nguyễn Hữu Pháp
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Cẩm Thoang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Sơn – Kiểm sát viên
Ngày 29 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 182/2021/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2021 về ―Tranh chấp ly hôn‖; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Trần Thị V, sinh năm 1984
Địa chỉ: Thôn Mỹ Thạnh Tây, xã Hòa Phong, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên.
Có mặt tại phiên tòa
Bị đơn: Trần Văn H, sinh năm 1981
Địa chỉ: Thôn Mỹ Thạnh Tây, xã Hòa Phong, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên.
Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyeân ñơn Trần Thị V trình bày: Nguyên đơn và bị đơn tự nguyện tìm hiểu và kết hôn, được UBND xã Hòa Đồng, huyện Tây Hòa cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 02/7/2004. Sau khi kết hôn vợ chồng sống chung phía nhà cha mẹ bà nguyên đơn nhưng cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Nguyên nhân là do tính tình hai bên không hợp nhau, ông Hảo không lo làm ăn, không chăm lo cho gia đình mà thường xuyên nhậu nhẹt, khi say thường đauổi đánh vợ con lam cho hai bên mẫu thuẫn, cãi vã dẫn đến tình cảm vợ chồng phai nhạt dần. Đầu năm 2020, bị đơn đi làm ăn xa sống chung với người phụ nữ khác và chấm dứt quan hệ vợ chồng với bị đơn chỉ thỉnh thoảng về thăm con một lát rồi đi. Nay thấy tình cảm không còn và không có khả năng đoàn tụ nên nguyên đơn xin ly hôn bị đơn để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Có hai con chung tên Trần Lẹ M - sinh ngày 26/10/2012 và Trần Chí C – sinh ngày 07/02/2018. Hiện nay cả hai con đang do nguyên đơn đang trực tiếp nuôi dưỡng, con có nguyện vọng ở với mẹ nên ly hôn đề nghị Tòa giao hai con chung cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn Trần Văn Hảo đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt do đó không có ý kiến trình bày.
Tòa án huyện Tây Hòa đã tiến hành hòa giải nhưng không được do bị đơn vắng mặt.
Tại bản trình bày ý kiến của bà V có xác nhận của chính quyền địa phương và theo biên bản xác minh ngày 30/6/2022 tại UBND xã Hòa Phong cung cấp đều có nội dung: Giữa ông Trần Văn H và bà Trần Thị V sống chung không hạnh phúc, ông Hảo đã bỏ đi và không còn sống chung với bà Vu từ năm 2020 đến nay nên mới gửi đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Ông H và bà V có 02 con chung hiện nay đang do bà Vu trực tiếp nuôi dưỡng.
Tại phiên tòa nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với bị đơn, giao con chung cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con và không yêu cầu giải quyết tài sản.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong thời gian chuẩn bị xét xử, Thẩm phán chấp hành đúng các quy định tại Điều 48, 171, 174 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa HĐXX và thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, Viện kiểm sát không có yêu cầu gì.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, 56, 81 Luật HNGĐ năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc ly hôn bị đơn, giao con chung cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng, bị đơn không phải cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung không ai yêu cầu nên không giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Nguyên đơn và bị đơn tự nguyện kết hôn và được UBND xã Hòa An, huyện Tây Hòa cấp giấy chứng nhận kết hôn nên đây là hôn nhân hợp pháp, nguyên đơn có yêu cầu ly hôn nên quan hệ pháp luật tranh chấp là: Tranh chấp ly hôn.
Hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn là hợp pháp, bị đơn có hộ khẩu thường trú tại thôn Mỹ Thạnh Tây, xã Hòa Phong, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên nên căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn đã được triệu tập hơp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt, do đó căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.
Về yêu cầu của nguyên đơn:
Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn và bị đơn tự nguyện kết hôn và được UBND xã Hòa Đồng, huyện Tây Hòa cấp giấy chứng nhận kết hôn đúng quy định của pháp luật nên đây là hôn nhân hợp pháp. Nguyên đơn trình bày lý do xin ly hôn là do tính tình vợ chồng không hợp, tính bị đơn nóng nảy với người trong gia đình nhưng lại coi trọng bạn bè, thường xuyên ăn nhậu, say xỉn lại kiếm cớ đánh đập vợ con. Bị đơn là đàn ông có đủ sức khỏe nhưng lười lao động nên không có thu nhập để lo cho gia đình, cuộc sống của vợ chồng rất khó khăn, mâu thuẫn giữa vợ chồng trầm trọng. Lời trình bày của nguyên đơn phù hợp với các chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và quá trình thẩm tra tại phiên tòa. Xét thấy giữa nguyên đơn và bị đơn tình cảm không còn, không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được, nay nguyên đơn yêu cầu giải quyết ly hôn là phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.
Về con chung: Hai con chung tên Trần Lẹ M - sinh ngày 26/10/2012 và Trần Chí C – sinh ngày 07/02/2018 hiện đang do nguyên đơn nuôi dưỡng. Con chung tên Trần Lẹ M có nguyện vọng ở với mẹ. Tại phiên tòa nguyên đơn xin được nuôi hai con chung và đề nghị Tòa giao con cho nguyên đơn nuôi dưỡng, không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy ý kiến trình bày của nguyên đơn phù hợp với nguyện vọng của con chung. Từ khi bị đơn bỏ đi đến nay con chung do một mình nguyên đơn nuôi dưỡng nên cuộc sống của con đã ổn định, nay tiếp tục giao hai con cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng là đảm bảo cho sự phát triển ổn định về thể chất và tinh thần của các con. Do đó chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc được trực tiếp nuôi con chung. Nguyên đơn không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
Về tài sản: Không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 51, 53, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014. Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 quy định về án phí, lệ phí tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Thị V.
Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn Trần Thị V được ly hôn bị đơn Trần Văn H.
Về con chung: Giao hai con chung tên Trần Lẹ M - sinh ngày 26/10/2012 và Trần Chí C – sinh ngày 07/02/2018 cho nguyên đơn Trần Thị V trực tiếp nuôi dưỡng. Nguyên đơn không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn Trần Thị V phải chịu 300.000đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, bà Vu đã nộp đủ tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002047 ngày 13/10/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tây Hòa.
Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày từ ngày nhận được bản án hoạt bản án được niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Phú Yên; - VKSND H. Tây Hòa; - Chi cục THADS H. Tây Hòa; - UBND xã Hòa Đồng - Đương sự; - Lưu hồ sơ. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN Lê Văn Tuyển Nguyễn Hữu Pháp | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Vĩnh Phúc THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Vĩnh Phúc |